Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi tại Việt Nam ghi nhận những bước chuyển biến quan trọng kể từ khi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 và Việt Nam gia nhập Công ước La Hay số 33 vào ngày 01/02/2012. Tuy nhiên, theo số liệu khảo sát tại 32 tỉnh, thành phố, hiện có khoảng 1.133 trẻ em đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở tôn giáo nhưng phần lớn chưa được đăng ký pháp lý đầy đủ, cho thấy khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật và thực tiễn đời sống. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm tuyệt đối nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, khắc phục tình trạng nuôi con nuôi thực tế tự phát và ngăn ngừa các nguy cơ thương mại hóa việc nhận con nuôi.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ nền tảng lý luận về quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi, đánh giá toàn diện thực trạng thi hành các văn bản pháp luật hiện hành và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ trẻ em. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian pháp lý tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2019, đặt trong sự đối chiếu với hệ thống pháp luật của Pháp, Nga, Trung Quốc và các điều ước quốc tế liên quan. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ nhằm chuẩn hóa 100% quy trình đăng ký nuôi con nuôi, giảm thiểu tối đa các tranh chấp phát sinh và bảo đảm quyền được nuôi dưỡng an toàn trong môi trường gia đình thay thế cho hơn 1.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người (Human Rights-Based Approach), kế thừa các nguyên tắc bất di bất dịch của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) năm 1989 mà 193 quốc gia đã phê chuẩn. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng thuyết môi trường gia đình tối ưu (Best Interests of the Child Doctrine) được cụ thể hóa trong Công ước La Hay năm 1993, nhấn mạnh rằng gia đình là cái nôi tự nhiên và an toàn nhất cho sự trưởng thành của trẻ em.

Bốn khái niệm cốt lõi được định hình xuyên suốt công trình gồm:

  1. Quyền trẻ em: Quyền tự nhiên, vốn có của công dân dưới 16 tuổi theo Luật Trẻ em năm 2016 và người dưới 18 tuổi theo chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990.
  2. Nuôi con nuôi: Quan hệ pháp lý xác lập mối liên kết cha, mẹ, con bền vững giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi theo Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
  3. Nuôi con nuôi thực tế: Mối quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc phát sinh trên thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  4. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa những người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được tổng hợp từ báo cáo tổng kết thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và số liệu điều tra thực địa trên 32 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 1.133 trường hợp trẻ em sinh sống tại các nhà chùa, cơ sở bảo trợ tôn giáo cùng hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng địa lý, đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam và các khu vực đặc thù có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Điện Biên, Lai Châu, Kon Tum, Gia Lai và Phú Yên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học là nhằm bóc tách đa chiều các tầng nấc pháp lý, đánh giá mức độ tương thích giữa luật thực định Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời làm rõ tác động sâu sắc của luật tục đối với hiệu lực thi hành của các quy định nhà nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy định về điều kiện độ tuổi của người nhận con nuôi còn tồn tại lỗ hổng pháp lý lớn. Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 chỉ quy định người nhận nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên nhưng hoàn toàn vắng bóng trần độ tuổi tối đa. Trong khi đó, pháp luật Trung Quốc giới hạn độ tuổi nhận nuôi thông thường từ 30 đến 50 tuổi, Pháp quy định công dân từ 28 tuổi trở lên và chênh lệch tối thiểu 15 tuổi, còn Nga ấn định mức chênh lệch tối thiểu là 16 tuổi. Điều này dẫn đến nguy cơ các cặp vợ chồng trên 60 hoặc 70 tuổi nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, khiến việc bảo đảm chăm sóc lâu dài bị suy giảm theo quy luật sinh học.

Thứ hai, tình trạng nuôi con nuôi thực tế diễn ra phức tạp tại các cơ sở tôn giáo mà không qua đăng ký khai trình. Dữ liệu khảo sát trên 32 địa phương cho thấy Nam Định có 31 trường hợp, Sóc Trăng có 22 trường hợp, Thừa Thiên Huế có 15 trường hợp và Hà Nội có 11 trường hợp trẻ em được tiếp nhận tại nhà chùa. Về mặt pháp lý, các sư trụ trì không đủ điều kiện xác lập tư cách cha mẹ nuôi theo Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, đồng thời cơ sở thờ tự chưa đáp ứng quy chuẩn cơ sở bảo trợ xã hội theo Nghị định số 68/2008/NĐ-CP và Nghị định số 81/2012/NĐ-CP, gây tắc nghẽn trong việc tìm gia đình thay thế hợp pháp cho trẻ.

Thứ ba, sự phân hóa rõ nét giữa quy định pháp luật và tập quán đồng bào dân tộc thiểu số khiến tỷ lệ nuôi con nuôi thực tế chưa đăng ký ước tính chiếm trên 60% tổng số ca nuôi dưỡng trong cộng đồng miền núi. Điển hình như tục nuôi con nuôi lục so của người Tày ở Lạng Sơn, tập quán người anh cả nuôi em của người Thái tại Điện Biên hay luật tục của người Jrai và Bahnar tại Gia Lai coi việc thỏa thuận giữa hai bên là đương nhiên được buôn làng thừa nhận mà không cần chứng nhận từ Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thứ tư, cơ chế bảo vệ quyền trẻ em khi lấy ý kiến đã đạt được những chuẩn mực rõ ràng. Quy định bắt buộc phải có sự đồng ý của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên và thời hạn rút lại ý kiến cho nhận con nuôi là 15 ngày đối với việc nuôi trong nước, 30 ngày đối với việc nuôi có yếu tố nước ngoài theo Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã tạo hành lang an toàn giúp cha mẹ đẻ và trẻ em tránh được các quyết định vội vàng, sai lầm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ tâm lý e ngại công khai danh tính con nuôi của người dân, sự thiếu hụt mạng lưới nhân viên công tác xã hội chuyên trách và năng lực chuyên môn của cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã còn hạn chế. So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào thủ tục hành chính, luận văn này tiếp cận đa chiều từ góc độ nhân quyền toàn diện, gắn kết quá trình bảo vệ trẻ từ khi xác lập, theo dõi quá trình nuôi dưỡng đến giai đoạn chấm dứt nuôi con nuôi theo Điều 25 và Điều 26 của luật chuyên ngành.

Để minh họa trực quan, các dữ liệu về sự phân bổ 1.133 trẻ em tại 32 tỉnh có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ tập trung tại các vùng miền, kết hợp bảng ma trận so sánh 4 tiêu chí cốt lõi gồm trần tuổi tối đa, khoảng cách tuổi, thời gian thử thách và cơ chế hậu kiểm giữa pháp luật Việt Nam với hệ thống luật của Pháp, Nga, Trung Quốc và Guatemala. Việc mô hình hóa này chứng minh rõ tính cấp thiết của việc xây dựng cơ chế giám sát định kỳ sau giao nhận con nuôi nhằm bảo đảm quyền lợi tài sản và nhân thân cho trẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Sửa đổi và bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần chủ trì xây dựng luật sửa đổi trong lộ trình 2020-2025, bổ sung quy định trần độ tuổi tối đa của người nhận nuôi không quá 55 đến 60 tuổi đối với trường hợp nhận trẻ sơ sinh, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát hậu kiểm đạt tỷ lệ 100% hồ sơ trong ít nhất 3 năm đầu tiên sau khi giao nhận con nuôi.
  2. Chuẩn hóa mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng tôn giáo: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban nhân dân 63 tỉnh, thành phố rà soát, chuyển đổi 100% các cơ sở thờ tự đang chăm sóc từ 10 trẻ em trở lên thành cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập đúng chuẩn Nghị định số 68/2008/NĐ-CP, giải quyết dứt điểm tình trạng pháp lý cho 1.133 trẻ em trước năm 2022.
  3. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ công tác xã hội và tư pháp: Sở Tư pháp các địa phương triển khai chương trình tập huấn nghiệp vụ bắt buộc hàng năm cho 100% cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã, xây dựng quy trình tư vấn tâm lý chuẩn hóa, rút ngắn thời gian xử lý xác minh tìm gia đình thay thế xuống dưới 30 ngày làm việc.
  4. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật gắn với phong tục tập quán: Ủy ban Dân tộc phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tổ chức các chiến dịch truyền thông điểm tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, đặt mục tiêu giảm 50% tỷ lệ nuôi con nuôi thực tế không đăng ký trong giai đoạn 3 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ tư pháp - hộ tịch và chuyên viên quản lý con nuôi tại Ủy ban nhân dân các cấp: Tham khảo quy trình thẩm định hồ sơ, kỹ năng tư vấn pháp lý và xử lý chính xác thời hạn rút lại ý kiến từ 15 đến 30 ngày của đương sự.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật học: Sử dụng công trình như một tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về quyền trẻ em, pháp luật hôn nhân gia đình và luật so sánh quốc tế với hệ thống dữ liệu đối chiếu chuẩn xác.
  3. Các tổ chức bảo trợ xã hội và tổ chức phi chính phủ về quyền trẻ em: Khai thác khung phân tích để xây dựng các chương trình can thiệp hỗ trợ cho hơn 1.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các cơ sở nuôi dưỡng tập trung.
  4. Cá nhân và các cặp vợ chồng có nguyện vọng nhận con nuôi: Nắm vững điều kiện pháp lý, quy trình tìm gia đình thay thế qua 3 cấp hành chính và các nghĩa vụ chăm sóc nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của con nuôi.

Câu hỏi thường gặp

Theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010, người nhận con nuôi phải hơn con nuôi bao nhiêu tuổi? Người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên theo Điểm b Khoản 1 Điều 14. Trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định chênh lệch 20 tuổi này.

Thời hạn rút lại ý kiến đồng ý cho trẻ em làm con nuôi được quy định ra sao? Theo Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, người được lấy ý kiến có quyền thay đổi, rút lại sự đồng ý trong thời hạn 15 ngày đối với nuôi con nuôi trong nước và 30 ngày đối với nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài kể từ ngày được lấy ý kiến chính thức.

Trẻ em ở độ tuổi nào bắt buộc phải được lấy ý kiến khi làm thủ tục nhận con nuôi? Căn cứ Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên thì bắt buộc phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó, bảo đảm sự tôn trọng ý chí và quyền tham gia của trẻ.

Nhà chùa hoặc sư trụ trì có được đứng tên đăng ký nhận con nuôi không? Không. Pháp luật quy định việc nuôi con nuôi chỉ xác lập giữa cá nhân với cá nhân nhằm tạo lập mái ấm gia đình. Sư trụ trì xuất gia tu hành không thể thiết lập môi trường gia đình tự nhiên, do đó nhà chùa chỉ có thể tiếp nhận nuôi dưỡng khi thành lập cơ sở bảo trợ xã hội hợp pháp.

Quy trình tìm gia đình thay thế cho trẻ em trước khi giới thiệu ra nước ngoài gồm những cấp nào? Quy trình tìm gia đình thay thế bắt buộc phải thực hiện tuần tự qua 3 cấp hành chính gồm: cấp xã, cấp tỉnh và cấp trung ương thông qua Cục Con nuôi trực thuộc Bộ Tư pháp nhằm ưu tiên tối đa việc tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi dựa trên các chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2011-2019, chỉ rõ khoảng trống về trần tuổi tối đa của người nhận nuôi.
  • Bóc tách toàn diện thực trạng 1.133 trẻ em tại các cơ sở tôn giáo trên 32 tỉnh thành và sự xung đột giữa luật tục với pháp luật hiện hành.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện pháp luật và chuyên nghiệp hóa mạng lưới cán bộ công tác xã hội.
  • Khẳng định lộ trình chuẩn hóa 100% việc đăng ký và giám sát nuôi con nuôi qua 3 cấp hành chính là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn mới.

Công trình là tài liệu khoa học giá trị đóng góp vào việc hoàn thiện thể chế tư pháp và hoạch định chính sách bảo vệ trẻ em tại Việt Nam. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý có thể khai thác kết quả này để phục vụ trực tiếp cho tiến trình sửa đổi Luật Nuôi con nuôi trong thời gian tới.