Luận Văn Thạc Sĩ: Bảo Vệ Quyền Con Người Của Người Chưa Thành Niên Bị Tước Tự Do Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền con người cho người chưa thành niên bị tước tự do tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ TƯỚC TỰ DO BẰNG PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên và người chưa thành niên bị tước tự do

1.2. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên

1.3. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên bị tước tự do

1.4. Quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do và sự cần thiết bảo vệ nó

1.5. Những quy định cơ bản của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Các quy định của Pháp luật Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

2.2. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố

2.3. Trong giai đoạn xét xử

2.4. Chế độ của người chưa thành niên bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam; trong giai đoạn thi hành hình phạt tù có thời hạn, biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng

2.5. Quyền khiếu nại, tố cáo của người chưa thành niên bị tước tự do

2.6. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

2.6.1. Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

2.6.2. Thực trạng áp dụng hình phạt tù và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với người chưa thành niên

2.6.3. Thực trạng áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam

2.6.4. Thực trạng việc đảm bảo quyền bào chữa

2.6.5. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do

2.6.5.1. Những tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do
2.6.5.2. Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do

3. CHƯƠNG 3: NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ TƯỚC TỰ DO VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

3.1. Nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

3.3. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

3.4. Vấn đề xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.5. Thành lập Tòa án người chưa thành niên

3.6. Nâng cao năng lực của những người tiến hành tố tụng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Người chưa thành niên, với đặc điểm tâm lý và thể chất chưa hoàn thiện, thường dễ bị tổn thương trong các quy trình pháp lý. Việc bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Các quy định pháp luật hiện hành cần được xem xét và cải thiện để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nhóm đối tượng này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên

Người chưa thành niên được định nghĩa là những người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Họ thường không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trong các tình huống pháp lý. Điều này đòi hỏi sự can thiệp của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của họ.

1.2. Tình trạng tước tự do của người chưa thành niên tại Việt Nam

Tình trạng tước tự do của người chưa thành niên tại Việt Nam đang diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, từ việc tạm giữ đến thi hành án. Những biện pháp này cần được thực hiện một cách cẩn trọng để không xâm phạm đến quyền lợi của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các cơ quan thực thi pháp luật đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định này, dẫn đến việc xâm phạm quyền lợi của người chưa thành niên. Hơn nữa, sự thiếu hiểu biết về quyền lợi của họ cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Những thách thức trong việc thực thi pháp luật

Việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên gặp nhiều khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Điều này dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền lợi của họ trong quá trình tố tụng.

2.2. Thiếu hiểu biết về quyền lợi của người chưa thành niên

Nhiều người chưa thành niên không nhận thức được quyền lợi của mình trong các tình huống pháp lý. Điều này khiến họ dễ bị tổn thương và không thể tự bảo vệ mình.

III. Phương pháp bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

Để bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các biện pháp này không chỉ bao gồm việc cải thiện quy định pháp luật mà còn cần nâng cao nhận thức của xã hội về quyền lợi của nhóm đối tượng này.

3.1. Cải thiện quy định pháp luật hiện hành

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên được bảo vệ một cách tốt nhất. Điều này bao gồm việc tăng cường các biện pháp bảo vệ trong quá trình tố tụng.

3.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi của người chưa thành niên

Giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng về quyền lợi của người chưa thành niên là rất quan trọng. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và có thể tự bảo vệ khi cần thiết.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền con người của người chưa thành niên

Nghiên cứu về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng pháp luật hiện tại chưa đủ hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này.

4.1. Thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam

Thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy nhiều bất cập trong việc bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp

Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên. Các giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ và có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

V. Kết luận và tương lai của bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên

Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tương lai của vấn đề này phụ thuộc vào sự cải thiện của hệ thống pháp luật và sự nâng cao nhận thức của xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người

Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Điều này giúp đảm bảo sự phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ.

5.2. Định hướng tương lai trong bảo vệ quyền con người

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên. Điều này bao gồm việc cải thiện quy định pháp luật và nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi của họ.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BI TƯỚC TỰ DO BẰNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên và người chưa thành niên bị tước tự do 1. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên Quá trình phát triển của con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau trong đó có một quá trình đặc biệt mà con người có những bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tâm hồn, thời kỳ đó được gọi là thời kỳ chưa thành niên. Chưa thành niên là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn, luôn gắn liền với những biến đổi tâm sinh lý mà bất kỳ người nào cũng phải trải qua.

Lúc này, NCTN không hẳn là trẻ em, cũng chưa hẳn là người trưởng thành, đây là thời kỳ chuyển tiếp, các em không còn thụ động với vai trò của người được dạy dỗ nhưng lại chưa hẳn là người lớn, chưa có đủ khả năng phán đoán và giải quyết các tình huống. Hiện nay có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về NCTN, trước hết trên phương diện pháp luật quốc tế, khái niệm NCTN được đề cập tới trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng cụ thể như sau: Tại Điều 1, Phần 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28]. Như vậy, theo CRC trẻ em bao gồm tất cả những ai dưới 18 tuổi. Tại Các Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990, trong phần 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm vi áp dụng quy tắc, có quy định “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.

Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định” [30]. Các hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (các hướng dẫn Ri – Át), được thông qua và tuyên bố ngày 14/12/1990, mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về NCTN nhưng thông qua các quy định như: Hướng dẫn này phải được giải thích và được thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của tuyên bố thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, Công ước về quyền trẻ em là phạm vi các quy tắc phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN, cũng như các văn kiện và tiêu chuẩn khác có liên quan đến các quyền và lợi ích, phúc lợi của các thành niên… [29]. Như vậy, tinh thần của hướng dẫn cũng cho thấy NCTN là người dưới 18 tuổi. Theo Các quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người lớn” [26].

Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhấn mạnh rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật nghĩa là các quy tắc Bắc Kinh chỉ quy định các tiêu chuẩn tối thiểu và nó hoàn toàn tôn trọng tính “riêng” của mỗi quốc gia. Điều này mở ra cho mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với NCTN để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia mình. Tóm lại, tuy các Văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người nói trên có phạm vi điều chỉnh khác nhau xong đều thống nhất ở quan điểm NCTN là người dưới 18 tuổi. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm về NCTN, cụ thể: Theo Từ điển Tiếng việt – Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam thì:“NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [55].

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy từng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của mỗi ngành luật mà mỗi ngành luật lại có quy định khác nhau về NCTN. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “. Người chưa đủ 18 tuổi là NCTN”. Như vậy, NCTN là người dưới 18 tuổi [38, Điều 18].

Luật lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [41, Điều 161]. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khẳng định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [37, Điều 1]. BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm 2.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [40, Điều 12]. BLHS quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS. LHS (LHS) Việt Nam quy định NCTN phải chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, thực hiện hành vi phạm tội và có năng lực TNHS. Nói cách khác, NCTN phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và những người từ đủ 16 tuổi trở lên những người chưa đủ 18 tuổi phạm các tội phạm khác.

Một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cho dù hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý đều không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, quy định vấn đề NCTN phạm tội trong LHS còn có ý nghĩa thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc bình đẳng trong LHS làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt, đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội. Như vậy pháp luật Việt Nam nói chung có khá nhiều quy định khác nhau về NCTN nhưng đều thống nhất khái niệm NCTN là những người dưới 18 tuổi hay là người chưa đủ 18 tuổi. Đến một độ tuổi nhất định, con người mới có sự phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý và trở thành người trưởng thành.

Độ tuổi nhất định ở đây là đủ 18 tuổi. Khi đó, một người có đủ năng lực pháp luật, đủ năng lực hành vi và có thể tự chịu trách nhiệm khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật nói riêng. Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em và NCTN là không đồng nhất bởi lẽ theo các phân tích ở trên, NCTN là những người dưới 18 tuổi nhưng trẻ em lại chỉ là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi mà thôi. Như vậy, trẻ em là NCTN nhưng NCTN không phải trong trường hợp nào cũng là trẻ em.

Nhìn từ khía cạnh luật pháp nhận thấy căn cứ để xác định một người có phải là NCTN hay không chính là các giới hạn về độ tuổi mà nhà làm luật đã quy định. Có nhiều ý kiến cho rằng khái niệm NCTN trên phương diện pháp lý chưa được đầy đủ vì mới chỉ ra giới hạn về độ tuổi mà chưa chỉ ra các đặc điểm về thể chất và trí tuệ. Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm nhà làm luật đưa ra là phù hợp bởi lẽ chính giới hạn về độ tuổi đã tính đến sự hợp lý giữa đặc điểm thể chất, tinh thần của các em đặc biệt đã tính đến khả năng của các em khi đặt các em trong mối tương quan với các quan hệ pháp luật khác nhau đó. Từ các phân tích trên, có thể rút ra những đặc điểm của NCTN như sau: Thứ nhất: Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc của thời kỳ này, với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì quan 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm về NCTN cũng theo đó mà không giống nhau.

Nhưng tựu chung các quan niệm này đều đồng ý, NCTN là người chưa trưởng thành về thể chất và trí tuệ. Bởi các em đang ở trong quá trình hình thành, phát triển tâm sinh lý và hoàn thiện nhân cách. Về cơ bản NCTN cũng có những trạng thái tâm lý khác như những người bình thường. Tuy nhiên, do đặc trưng về lứa tuổi và sự phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tinh thần, kinh nghiệm sống ít ỏi, trình độ nhận thức còn hạn chế mà ở họ tồn tại những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt.

Ở lứa tuổi này, các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể lực và tâm sinh lý, do vậy các em dễ xúc động, khi thì trầm tư, lúc thì sôi nổi, dễ bị kích động, lòng kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp. Các em mong muốn được người lớn tôn trọng, luôn muốn khẳng định mình đã trưởng thành và không chấp nhận sự can thiệp quá sâu của người lớn vào đời sống cá nhân. Tuy nhiên, các em lại có xu hướng cường điệu trong đánh giá bản thân và các sự việc xung quanh, tự cường điệu, đánh giá quá cao bản thân hoặc quá tiêu cực, tự ti; luôn nhạy bén với mọi biến động của xã hội. Dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân, muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo ý kiến của mình mà không muốn bị ảnh hưởng bởi người khác, khát khao được người khác đánh giá và khẳng định mình.

Mặt khác, NCTN có nhu cầu giao tiếp với bạn bè, các em hay chơi thành nhóm với những đặc điểm khác nhau. Các em có thể cùng học hỏi ở nhau những điểm tốt hoặc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu từ các thành viên trong nhóm. Điểm đặc biệt ở những nhóm này là tinh thần đoàn kết rất cao nhiều khi mang tính cực đoan, cục bộ, bè phái. Có thể vì một cá nhân mà cả nhóm sẵn sang gây gổ đánh nhau với nhóm khác một cách vô lý để rằn mặt, bảo vệ thành viên trong nhóm hay khẳng định địa vị của nhóm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bảo Vệ Quyền Con Người Của Người Chưa Thành Niên Bị Tước Tự Do Tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của những người chưa thành niên trong bối cảnh bị tước tự do. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người, đặc biệt là trong các tình huống mà trẻ em có thể bị xâm phạm quyền lợi. Nó không chỉ nêu rõ các quy định pháp lý hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức mà trẻ em phải đối mặt trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quyền nghĩa vụ của cha mẹ và con theo pháp luật việt nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em luận văn ths pháp luật và quyền con người 001 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi lao động trẻ em. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi theo pháp luật việt nam hiện nay sẽ cung cấp thông tin bổ ích về quyền lợi của trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền con người của trẻ em tại Việt Nam.