Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VÀ CON 1. Khái niệm, chủ thể thực hiện, đặc điểm quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con 1. Khái niệm Để có thể đưa ra khái niệm về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trước hết ta cần tìm hiểu nội dung của thuật ngữ “nghĩa vụ” và “quyền”. Theo từ điển luật học: “Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [2, tr.648] còn “Nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình” [2, tr.
Điều 274 BLDS năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).” Dưới góc độ pháp lý, cha, mẹ và con là những chủ thể của quan hệ pháp luật HN&GĐ, theo đó pháp luật quy định những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện và quyền mà họ được hưởng. Các quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con mang những đặc điểm cơ bản của các quan hệ pháp luật HN&GĐ nói chung. Tuy nhiên, trong nội dung quan hệ pháp luật nghĩa vụ, quyền của cha mẹ và con còn mang một yếu tố rất đặc trưng của gia đình Việt Nam đó là xuất phát từ tình cảm yêu thương gắn bó giữa cha mẹ với con, giữa các thành viên trong Luan van 9 gia đình, tất cả nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con đều hướng tới đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh và toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ những phân tích nêu trên chúng ta có thể rút ra khái niệm quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con như sau: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con là tổng hợp các quy định của pháp luật ghi nhận các quyền của cha mẹ và con; yêu cầu cha mẹ và con phải thực hiện những hành vi nhất định để đảm bảo quyền lợi của con, cha mẹ và gia đình.
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con Khoản 6, điều 3, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột”. Trong tâm thức của người Việt, vốn quý giá nhất của cha mẹ chính là con cái. Cha mẹ phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục tư cách, ý thức, tâm hồn con từ khi còn nhỏ đến khi con trưởng thành.
Giữa cha mẹ và con cái có mối quan hệ rất thiêng liêng, bao hàm mối quan hệ sinh thành, dưỡng dục, là sự nối tiếp giữa các thế hệ với nhau, kể cả đối với con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng hay với con dâu, con rể. Còn phận làm con thì cũng phải hiếu nghĩa, chăm lo, phụng dưỡng bố mẹ suốt đời. Có thể thấy, chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con gồm: Cha mẹ đẻ và con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi; cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng; con dâu, con rể và cha mẹ vợ, cha mẹ chồng. Luan van 10 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã đưa ra khái niệm con nuôi và cha mẹ nuôi.
Theo đó: “Con nuôi là người được nhận làm con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” và “Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký”. Theo từ điển Tiếng việt: “Cha dượng là chồng sau của mẹ, trong quan hệ với con của người chồng trước” và “mẹ kế là vợ sau của bố, trong quan hệ với con của người vợ trước của chồng” Con riêng là con của một bên vợ hoặc chồng với người khác. Con riêng có thể là con do người vợ hoặc người chồng có trước khi kết hôn (có trong quan hệ hôn nhân trước hoặc vợ, chồng chưa kết hôn nhưng đã có con ngoài hôn nhân). Cũng có thể là con riêng của vợ nếu do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng Tòa án đã xác định được người chồng không phải là cha của người con đó (con do người vợ có thai với người khác trong thời ký hôn nhân).
Có thể là con riêng của người chồng trong trong trường hợp Tòa án xác định người chồng là cha của người con do người phụ nữ khác sinh ra. Như vậy, con riêng có thể là con trong hôn nhân, có thể là con ngoài hôn nhân. Đặc điểm của quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con Từ khái niệm đã nêu ở phần trên ta có thể rút ra một số đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con như sau: Thứ nhất, quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh trên cơ sở có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi con nuôi nên tồn tại ổn định, lâu dài, bền vững. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con cũng mang tính ổn định, lâu dài, gắn liền với sự tồn tại của quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con.
Về cơ bản, pháp luật HN&GĐ không quy định vấn đề chấm dứt nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con. Điều này xuất phát từ tính chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và con, chứa đựng yếu tố tình cảm thiêng liêng, thể hiện thương yêu và Luan van 11 trách nhiệm giữa cha, mẹ và con, là sợi dây gắn bó quan hệ lâu dài giữa các chủ thể. Chỉ trong trường hợp cha mẹ đẻ đồng ý cho con làm con nuôi của người khác, nếu không có thỏa thuận khác giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thì cha mẹ đẻ chấm dứt hầu hết các quyền, nghĩa vụ đối với con đẻ (Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Riêng đối với quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, pháp luật có quy định về chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Khi quan hệ này chấm dứt thì các quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt. Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con dựa trên nguyên tắc bình đẳng về trách nhiệm của cha và mẹ đối với con và về quyền lợi của các con. Sự bình đẳng ở đây thể hiện ở hai khía cạnh. Một là, cha và mẹ bình đẳng với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền của mình đối với con.
Hai là, các con không phân biệt con nuôi hay con đẻ, con trai hay con gái, con trong giá thú hay con ngoài giá thú đều có quyền và nghĩa vụ như nhau; cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con. Thứ ba, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con xuất phát từ tình cảm gia đình thiêng liêng, không mang tính chất đền bù ngang giá và gắn liền với nhân thân của cha mẹ và con, không thể chuyển giao cho người khác. Nếu như trong quan hệ dân sự thông thường thì quyền của chủ thể này tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể khác, nó mang tính chất đền bù ngang giá và cái mà các chủ thể hướng tới thông thường là lợi ích vật chất (tài sản) thì trong quan hệ pháp luật nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quyền và nghĩa vụ không thể tách rời, không mang tình chất đền bù ngang giá. Trong đó mục đích mà các chủ thể hướng tới không phải là lợi ích về tài sản mà là vì sự ổn định của gia đình, của xã hội.
Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con gắn với nhân thân của cha mẹ nên không thể chuyển giao cho người khác (ví dụ: nghĩa vụ cấp dưỡng). Luan van 12 Thứ tư, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con được thực hiện một cách trực tiếp và thực hiện chung giữa vợ, chồng đối với con. Thực hiện một cách trực tiếp bởi vì cha, mẹ là người sinh ra hoặc nuôi dưỡng con phải là chủ thể tích cực nhất trong việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền đối với con, không thể ủy quyền cho người khác trong việc nuôi dạy con. Thực hiện chung bởi vì cha, mẹ không thể thực hiện nghĩa vụ và quyền của cha mẹ một cách phân tán, độc lập.
Mỗi người thực hiện nghĩa vụ và quyền của mình theo thiên chức của từng người nhưng có sự hợp tác, bàn bạc thống nhất trên cơ sở đảm bảo lợi ích của con và con vừa có quyền được cha mẹ yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc nhưng lại vừa có nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ khi cha mẹ ốm đau, già yếu, không có khả năng tự chăm sóc, tự bảo vệ bản thân. Nguyên tắc về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con 1. Nguyên tắc hiến định theo Hiến pháp Xuất phát từ tinh thần được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.
Gia đình tế bào của xã hội, là nơi tập hợp những người gắn bó với nhau do có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, từ đó làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay, quyền con người về hôn nhân và gia đình, quyền được làm cha, làm mẹ và làm con, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đã trở thành một trong các quyền cơ bản nhất của cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. “Bình đẳng” là nguyên tắc cơ bản trong việc công nhận và bảo đảm thực thi quyền con người về hôn nhân và gia đình, không phân biệt đối xử, kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.