CHƯƠNG 1 Thông qua những nội dung cơ bản của quy định nuôi con nuôi, có thể thấy đây là một quy định mang sứ mệnh rất to lớn đối với pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung. Việc xây dựng pháp luật về nuôi con nuôi là thực sự cần thiết và điều này được chứng minh rõ ràng khi không chỉ Việt Nam mà các nước khác tại châu Âu và châu Á cũng xây dựng pháp luật để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi, chẳng hạn như Anh, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, … Xuất phát từ sứ mệnh to lớn đối với pháp luật hôn nhân và gia đình, chế định nuôi con nuôi đã mang đến cho nhiều đứa trẻ thiếu thốn tình cảm gia đình một mái ấm để phát triển tốt nhất, mang đến cho những đứa trẻ ở những gia đình chưa đủ khả năng tài chính – tinh thần một gia đình thứ hai với những điều kiện nuôi dưỡng tốt hơn, mang đến cho những cặp cha mẹ, những hoàn cảnh đơn thân thiếu may mắn một niềm vui, một động lực và hai chữ gia đình trọn vẹn hơn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp gia đình khi đăng ký xác lập mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi đều mang ý nghĩa tích cực và tốt đẹp. Trong quá trình cùng nhau xây dựng gia đình, đã có những mái nhà không trở thành mái ấm mà trở thành nỗi ám ảnh đối với trẻ em, đã có những đứa con không trở thành niềm vui mà lại trở thành nỗi khổ tâm đối với cha mẹ nuôi.
Hơn thế, còn có những đối tượng lợi dụng quy định nhân văn này với mục đích xấu. Do vậy, cần có những quy định được xây dựng nhằm bảo vệ khi một trong hai bên của mối quan hệ này khi bị hành hạ, ngược đãi, lợi dụng - đó là những quy định để chấm dứt việc nuôi con nuôi nếu có những vi phạm xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của một trong hai bên hoặc là nếu một trong hai bên có mong muốn chấm dứt mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi một cách tự nguyện. 13 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT NUÔI CON NUÔI TẠI VIỆT NAM 2. Quy định về căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi Căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi đã được quy định từ Luật hôn nhân và gia đình 1986, đã được bổ sung và cải thiện theo pháp luật từng thời kỳ.
Dưới đây học viên sẽ phân tích theo góc nhìn xã hội các căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 1986, năm 2000, năm 2014 và Luật Nuôi con nuôi 2010. Quy định căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật hôn nhân và gia đình 1986 đã đưa ra một số căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi6. Tuy nhiên, những căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 1986 chủ yếu quy định về hành vi, biểu hiện của ý chí của chủ thể ra bên ngoài. Quy định về căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi chỉ giới hạn trong phạm vi thực hiện hành vi gây ra tác động xấu hoặc làm sứt mẻ tình cảm của bên nhận nuôi hoặc bên được nhận nuôi đối với bên còn lại.
Có thể thấy, Luật hôn nhân và gia đình 1986 là luật đầu tiên điều chỉnh về các mối quan hệ liên quan đến hôn nhân và gia đình được áp dụng trong vi toàn quốc thay cho Luật hôn nhân và gia đình 1959 chỉ được áp dụng khu vực miền Bắc. Cho nên, một trong những nguồn gốc của pháp luật là bằng hoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới, quy phạm pháp luật được sử dụng trong tất cả mọi trường hợp khi xuất hiện những hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu. Vì thế, khi Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 ra đời, bối cảnh và điều kiện xã hội chưa quá nhiều biến đổi, phức tạp nên các căn cứ để chấm dứt nuôi con nuôi còn đơn giản, chưa chi tiết và phức tạp. Những căn cứ này chủ yếu xoay quanh mối quan hệ nhân thân và yếu tố tình cảm giữa các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.
Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 chỉ quy định chung về những hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm và những hành 6 Điều 39 Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 14 vi khác làm cho tình cảm giữa hai bên không còn nữa mà không nêu rõ hành vi khác là những hành vi như thế nào. Việc quy định chưa cụ thể sẽ khiến cơ quan chức năng có thẩm quyền khó khăn hơn trong việc xem xét chứng cứ, căn cứ để chấm dứt nuôi con nuôi giữa người nuôi con nuôi và người được nhận nuôi. Đất nước ngày càng phát triển, kinh tế - xã hội cũng có những bước tiến rất khác biệt, những vấn đề về hôn nhân và gia đình cũng thay đổi một cách rõ rệt. Vì vậy, những quy định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến lĩnh vực này nói chung và vấn đề nuôi con nuôi nói riêng của Luật Hôn nhân và gia đình 1986 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp với thực tế.
Chính vì vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 đã quy định đầy đủ hơn, chi tiết hơn về căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi7 mà không còn gói gọn bởi việc thực hiện hành vi tác động giữa các chủ thể trong mối quan hệ mà đã bổ sung thêm những căn cứ cởi mở hơn, căn cứ mang ý chí tự nguyện giữa hai bên. Ngoài ra, “những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa” cũng được diễn giải rõ ràng hơn so với quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 19868. Ngoài ra, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có những quy định tiến bộ hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi không chỉ xem xét quan hệ nhân thân của người nhận nuôi trong thời gian xác lập quan hệ nuôi con nuôi mà còn xem xét quy chiếu về trước khoảng thời gian xác lập quan hệ nuôi con nuôi. Nếu xét thấy cha mẹ nuôi thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Khoản 5 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Dù đây là một căn cứ tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, tuy nhiên lại là một căn cứ chưa phù hợp để đặt tại căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi. Bởi vì, việc chấm dứt một hành động chỉ xảy ra khi hành động đó đã được thực hiện và trong quá trình thực hiện xảy ra những sự kiện khiến hành động đó buộc phải dừng lại. Trong trường hợp này, nếu sử dụng quy định này là căn cứ để chấm dứt nuôi con nuôi, nghĩa là mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi đã được xác lập. Trong khi cơ quan có thẩm quyền có thể xác định được đối tượng nhận nuôi là người bị hạn chế một số 7 Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 8 Khoản 2, Khoản 3 Điều 76 và khoản 3 Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia Đình 2000.
15 quyền cha, mẹ trước khi tiến hành xác lập quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi giữa người nuôi và người được nhận nuôi. Vậy, quy định này nên được sử dụng để xây dựng căn cứ hủy nuôi con nuôi ngay khi phát hiện người nhận nuôi không đủ điều kiện, thay vì sử dụng quy định này làm căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi. Quy định về căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình hiện hành và Luật nuôi con nuôi 2010 Năm 2010, Luật Nuôi con nuôi được ban hành, quy định cụ thể những vấn đề về việc nuôi con nuôi. Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng có những quy định tiến bộ nhằm tạo cho trẻ em được nhận làm con nuôi một môi trường phát triển bền vững và một trong số đó là quy định về căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi.
Ngoài một số căn cứ đã được liệt kê tại Luật hôn nhân và gia đình 2000, Luật Nuôi con nuôi đã bổ sung rất nhiều hành vi, nguyên nhân làm căn cứ để chấm dứt nuôi con nuôi, gồm: (1) Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt nuôi con nuôi; Đây là căn cứ đã được đề cập trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, căn cứ này thể hiện nuôi con nuôi là một hành vi pháp lý xuất phát từ ý chí của bên nhận nuôi và bên được nhận nuôi. Hành vi nhận nuôi khi trẻ chưa thành niên, chưa đủ năng lực hành vi dân sự là hành vi pháp lý đơn phương nhưng vẫn có sự thể hiện ý chí của bên được nhận nuôi thông qua cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đối với trẻ em dưới 09 tuổi và đối với trẻ em từ đủ 09 tuổi đến dưới 16 tuổi phải có sự đồng ý của trẻ em. Tuy nhiên, khi đã thành niên, bản chất của hành vi pháp lý nuôi con nuôi sẽ thay đổi từ đơn phương thành sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể là người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Việc nuôi con nuôi là hành vi pháp lý thuộc điều chỉnh của pháp luật dân sự, mà theo một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 là: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.
Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. 16 Vậy nên, khi con nuôi đã thành niên và bên nhận nuôi có ý chí tự nguyện chấm dứt nuôi con nuôi thì quan hệ này sẽ được chấm dứt khi người có quyền yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi có yêu cầu với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Có thể thấy, pháp luật chấm dứt nuôi con nuôi tại Việt Nam được quy định khá rõ ràng và thống nhất nên việc áp dụng các căn cứ khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quy định về chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án không gặp khó khăn do mâu thuẫn giữa những quy định. Tuy nhiên, trước 2023, thực tiễn giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi vẫn xuất hiện nhiều bất cập.