Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới BVQLNTD là nhiệm vụ của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới, bởi lẽ xét cho cùng, NTD chính là những cử tri – những người có quyền quyết định nhiều vấn đề trọng đại của đất nước. Có thể nhận thấy các vấn đề về hợp đồng nói chung và BVQLNTD trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu nói riêng đã được các tác giả nước ngoài nghiên cứu từ khá sớm. Để làm rõ tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án, tác giả phân chia các công trình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau đây: Thứ nhất, nhóm các vấn đề về quyền tự do hợp đồng và hợp đồng theo mẫu: - Cuốn sách From Promise to Contract – Towards a Liberal Theory of Contract, Hart Publishing, Oxford 2003 của tác giả Dori Kimel. Cuốn sách đã trình bày lý thuyết tự do ý chí của hợp đồng truyền thống, theo đó pháp luật hợp đồng có thể được giải thích đơn giản là một cơ chế cho việc thực hiện lời hứa.
Dựa trên phân tích một loạt các vấn đề liên quan đến nền tảng đạo đức, nghĩa vụ và hợp đồng, tác giả đã cho thấy các mối quan hệ bản chất của các thể chế pháp lý và đạo đức trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa hợp đồng và lời hứa, nó được hiểu như là chức năng riêng biệt và có giá trị làm nền tảng cho luật hợp đồng và giải thích nghĩa vụ hợp đồng. Cùng với đó, các vấn đề quan trọng được đặt ra cả về lý luận và thực tiễn như việc lựa chọn biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng, vai trò của Nhà nước 8 trong việc định hình và điều chỉnh hoạt động quan hệ hợp đồng với quyền tự do của các bên tham gia hợp đồng. + Trong bài viết “Contracts of Adhesion-Some Thoughts About Freedom of Contract” của Friedrich Kessler, tác giả có cái nhìn đa chiều và khá sâu sắc về vấn đề tự do hợp đồng.
Bài viết khẳng định, hợp đồng là công cụ không thể thiếu trong hoạt động của các doanh nghiệp, cho phép các bên thể hiện và thực hiện ý chí của mình. Bên cạnh đó, tác giả đề cao vấn đề tự do hợp đồng, tự do thỏa thuận, và không thể gọi là hợp đồng nếu không có sự đồng ý của các bên. Cũng trong bài viết này, Friedrich Kessler đã đề cập đến hợp đồng theo mẫu do doanh nghiệp soạn thảo. Hiện nay, loại hợp đồng này xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực như vận chuyển, bảo hiểm, ngân hàng.
Hợp đồng theo mẫu thông thường loại bỏ hoặc kiểm soát những điều khoản bất lợi cho doanh nghiệp và việc sử dụng hợp đồng theo mẫu thường được thực hiện bởi những doanh nghiệp lớn, có thế lực và những doanh nghiệp độc quyền. Tác giả đã nhận ra sự bất bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng theo mẫu, và NTD là bên gánh chịu sự thua thiệt. Ông kêu gọi pháp luật, Tòa án cần nỗ lực để bảo vệ bên yếu thế hơn trong hợp đồng theo mẫu, bảo vệ NTD chống lại sự lạm dụng tự do hợp đồng. Thứ hai, nhóm các vấn đề về bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu.
- Cuốn sách The law of consumer protection and fair trading, tái bản lần thứ 6, London 2000 của tác giả Brian W. Harvey và Deborah L. Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc về bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế và triết học trong việc bảo vệ NTD cũng như sự cạnh tranh thương mại công bằng và tự do thông tin trên thị trường. Các tác giả đã đưa ra khái niệm NTD, phân tích những yếu thế của NTD trong quan hệ với các thương gia.
Theo các tác giả, pháp luật bảo vệ NTD được thiết kế để ngăn chặn các doanh nghiệp tham gia vào các gian lận và muốn bảo vệ NTD có hiệu quả thì cần phải thúc đẩy cạnh tranh công bằng 9 trong kinh doanh. Bên cạnh đó, các tác giả cũng phân tích các mô hình tài phán, các cơ quan, tổ chức bảo vệ NTD, phân tích tác động của EU đối với việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD tại các quốc gia trong EU. - Trong tác phẩm “Behavioural Economics in Unfair Contract Terms Cautions and Considerations”, hai tác giả Michael G. Faure và Hanneke A.Luth đã dựa trên phương pháp tiếp cận kinh tế truyền thống, lý luận về hành vi kinh tế học phân tích mối quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất, kinh doanh.
Các tác giả đã tập trung vào vấn đề những điều khoản gây hiểu nhầm, bất lợi và không công bằng trong hợp đồng được ký kết với người tiêu dùng. Theo tác giả, khiếm khuyết của thị trường là sự bất đối xứng thông tin, chi phí giao dịch, khả năng thương lượng giữa NTD và nhà sản xuất. Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp để kiểm tra sự công bằng của các điều khoản trong hợp đồng. Từ đó, tác giả xây dựng nhiều quan điểm liên quan đến chính sách bảo vệ NTD trên cơ sở liên hệ với chính sách bảo vệ NDT của Châu Âu.
- Trong bài viết, “Standardization of standard-form contracts: competition and contract implications” của Mark R. tác giả cho rằng, hợp đồng tiêu chuẩn hóa không chỉ là đem lại lợi thế về chi phí của hợp đồng mà còn tăng cạnh tranh giữa các công ty, bởi vì một hợp đồng tiêu chuẩn làm cho so sánh giữa các dịch vụ của các công ty dễ dàng hơn. Những nghiên cứu gần đây về hợp đồng tiêu chuẩn hoá đã được nghiên cứu phổ biến hơn, tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ chú ý vào việc giải thích hợp đồng, nhấn mạnh thực tế của tiêu chuẩn hoá và bản chất của thực thể tiêu chuẩn hóa mà ít chú ý đến các vấn đề về sự công bằng trong hợp đồng. Hơn nữa, những tác động cạnh tranh của các tiêu chuẩn hợp đồng, trong đó liên đến vấn đề chống độc quyền.
Từ những tác động của hợp đồng tiêu chuẩn hoá đến việc bảo vệ NTD trong các điều khoản không công bằng, ông cho rằng cần phải có sự can thiệp của nhà nước để làm 10 cho những hợp đồng này trở lên lành mạnh hơn dưới góc độ chống độc quyền của các cơ quan nhà nước. - Tác giả Jeff Sovem với bài viết “Towards a New Model of Consumer Protection: The Problem of Inflated Transaction Costs”. Đã phân tích những hạn chế của hợp đồng theo mẫu và cung cấp những thực tế về việc tăng cao chi phí giao dịch của người tiêu dùng và sự hưởng lợi của các doanh nghiệp trong việc tăng cao chi phí giao dịch, đồng thời giải thích lý do tại sao các công ty được hưởng lợi từ các hoạt động như vậy. Theo đó, các công ty thường xuyên được hưởng lợi bằng cách tăng chi phí giao dịch của người tiêu dùng thông qua: làm lu mờ các điều khoản hợp đồng trong nhiều cách khác nhau, sử dụng cỡ chữ nhỏ, và bỏ qua điều khoản quan trọng của hợp đồng như phí cho trọng tài.…Trên cơ sở những phân tích của mình, tác giả đã đề xuất các nhà làm luật nên đưa ra hình thức xử phạt cần thiết đối với những doanh nghiệp đưa ra hợp đồng theo mẫu có nội dung làm tăng chi phí giao dịch để trục lợi nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
- Trong tác phẩm “Standard Form Contracts and Democratic Control of Lawmaking Power” của W. Tác giả cho rằng, trong những năm gần đây, thực tế sản xuất hàng loạt và một nền kinh tế tiêu dùng đã làm suy yếu cơ sở lý thuyết của nhiều nội dung trong pháp luật hợp đồng truyền thống. Những điều khoản trong hợp đồng này được áp đặt hơn là thoả thuận và hầu hết chúng không công bằng. Với vai trò bảo vệ công lý của mình, Tòa án, “bị kẹt” giữa mong muốn bảo vệ công lý và sự tuân thủ của họ với giáo lý hợp đồng phần lớn là lạc hậu và chưa tìm ra được một cách nào đúng nguyên tắc để thoát ra khỏi tình trạng khó xử này.
Giáo sư Slawson đề xuất một khuôn khổ phân tích mới được thiết kế để khôi phục cả công bằng và phù hợp với luật pháp của hợp đồng. Ông cho rằng các điều khoản của hợp đồng theo mẫu nên được kiểm soát 11 bởi các tiêu chuẩn có thể được bắt nguồn từ hướng dẫn/điều khiển của các bên và từ khái niệm rộng lớn hơn về sự công bằng. Trakman với bài viết “Adhesion Contracts and the Twenty First Century Consumer”, cho rằng Thương mại điện tử đã thay đổi pháp luật hợp đồng. Người tiêu dùng đang ngày càng phụ thuộc vào vô số điều kiện trong các hợp đồng trọn gói với tên gọi shrink -wrap, box-wrap, click-wrap hay browse-wrap trên mạng.
Mở phần mềm wrapping hoặc nhấp vào "Tôi đồng ý" trong một hộp thoại trên một máy tính đưa người sử dụng đến một loạt các điều kiện lựa chọn hợp lý để hạn chế, chấm dứt sử dụng hay giới hạn trách nhiệm của nhà cung cấp. Những phát kiến này là đối trọng của sự tăng trưởng của một thị trường mới - của các nhóm người tiêu dùng hiểu biết, những người sẵn sàng và có khả năng khởi kiện nhà sản xuất thương hiệu trong nhóm và các hoạt động khác. Đối mặt với những phát kiến trong thế kỷ 21, tòa án phải chật vật tìm kiếm điểm trung gian giữa việc điều tiết giao dịch đại chúng trong sự công bằng cho người tiêu dùng và tạo thuận lợi cho thương mại tự do. Trên cơ sở những phân tích, tác giả đề xuất cách thức để điều chỉnh các giao dịch đại chúng trong khi vẫn giữ được sự tự do của hợp đồng - một điều cần thiết cho một nền dân chủ tự do.
- Trong bài viết “Cooperation and Competition Regarding Standard Contract Terms in Consumer Contracts” của tác giả Thomas Wilhelmsson. Tác giả cho rằng, các Điều khoản hợp đồng tiêu chuẩn không công bằng là chủ đề gây tranh cãi thường xuyên trong luật hợp đồng trong thời gian ít nhất là một thế kỷ. Có nhiều cách thức khác nhau để giải quyết vấn đề này bao gồm giải thích/ giải nghĩa, điều chỉnh và các thủ tục kiểm soát chung cũng như luật bắt buộc chi tiết, được sử dụng phối hợp khác nhau, ở những nước khác nhau.