Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công ở việt nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công ở, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Pháp luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
102
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG ĐÌNH CÔNG

1.1. Khái quát chung về đình công

1.2. Đặc điểm của đình công

1.3. Bảo vệ người sử dụng lao động trong đình công

1.3.1. Khái niệm và đặc điểm về người sử dụng lao động

1.3.2. Sự cần thiết bảo vệ người sử dụng lao động trong đình công

1.3.3. Nội dung pháp luật bảo vệ người sử dụng lao động trong đình công

1.3.4. Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật lao động về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công

1.3.4.1. Giai đoạn trước năm 1994
1.3.4.2. Giai đoạn từ 1994 đến nay

1.3.5. Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và kinh nghiệm của một số quốc gia về bảo vệ quyền và lợi ích của người sử dụng lao động trong đình công

1.3.5.1. Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
1.3.5.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Tình hình đình công ở nước ta trong thời gian qua

2.1.1. Số lượng, quy mô và phạm vi của đình công

2.1.2. Đặc điểm chung các cuộc đình công ở Việt Nam trong thời gian qua

2.2. Thực trạng quy định của pháp luật lao động về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công

2.2.1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trước khi đình công

2.2.2. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong khi đình công

2.2.3. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động sau khi đình công

2.3. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động

2.3.1. Vai trò của cơ quan nhà nước

2.3.2. Vai trò của tổ chức người đại diện của người sử dụng lao động

2.3.3. Vai trò của tổ chức tham vấn và hòa giải

2.3.4. Vai trò của tổ chức trọng tài lao động và Tòa án

2.4. Một số đánh giá về vai trò của pháp luật và các cơ quan hữu quan trong việc bảo vệ người sử dụng lao động trong đình công ở nước ta hiện nay

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG ĐÌNH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm cơ bản hoàn thiện pháp luật lao động về bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công

3.2. Một số giải pháp cơ bản và kiến nghị

3.2.1. Hoàn thiện hệ thống quy định của pháp luật lao động

3.2.2. Đối với công tác quản lý nhà nước về lao động

3.2.3. Nâng cao vai trò của tổ chức đại diện người sử dụng lao động

3.2.4. Tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong giải quyết các cuộc đình công

3.2.5. Một số kiến nghị

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công

Đình công là một hiện tượng phổ biến trong quan hệ lao động, đặc biệt ở Việt Nam. Việc bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công là rất cần thiết để đảm bảo sự ổn định trong môi trường làm việc. Quyền lợi của người sử dụng lao động không chỉ liên quan đến lợi ích kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm đình công và vai trò của người sử dụng lao động

Đình công được hiểu là hành động ngừng việc của tập thể lao động nhằm yêu cầu cải thiện điều kiện làm việc. Người sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh đình công.

1.2. Tình hình đình công ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đây, tình hình đình công ở Việt Nam có xu hướng gia tăng. Các cuộc đình công thường diễn ra trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là dệt may và da giày, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và kinh doanh.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động trong đình công gặp nhiều thách thức. Các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Điều này dẫn đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

2.1. Những thách thức pháp lý trong đình công

Các quy định pháp luật về đình công còn thiếu sót, dẫn đến việc người sử dụng lao động không được bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ lao động.

2.2. Tác động của đình công đến hoạt động doanh nghiệp

Đình công không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn làm giảm uy tín của doanh nghiệp. Sự gián đoạn trong hoạt động sản xuất có thể dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho người sử dụng lao động.

III. Phương pháp bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công

Để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động, cần có những phương pháp hiệu quả. Việc xây dựng các quy định pháp luật chặt chẽ và hợp lý là rất quan trọng.

3.1. Cải cách pháp luật lao động về đình công

Cần thiết phải cải cách các quy định pháp luật lao động để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng lao động. Các quy định này cần phải rõ ràng và cụ thể hơn để tránh những tranh chấp không cần thiết.

3.2. Tăng cường vai trò của tổ chức đại diện người sử dụng lao động

Tổ chức đại diện người sử dụng lao động cần được tăng cường vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Điều này giúp tạo ra một môi trường làm việc công bằng và ổn định hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tình hình đình công

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình hình đình công ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, điều này đòi hỏi cần có những biện pháp bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động hiệu quả hơn.

4.2. Các mô hình bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Một số mô hình bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động đã được áp dụng thành công ở một số quốc gia. Việc áp dụng các mô hình này có thể giúp cải thiện tình hình đình công tại Việt Nam.

V. Kết luận và tương lai của bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công

Bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Tương lai của vấn đề này phụ thuộc vào sự cải cách pháp luật và sự hợp tác giữa các bên liên quan.

5.1. Tương lai của pháp luật lao động về đình công

Pháp luật lao động cần được cải cách để bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động tốt hơn. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường làm việc ổn định và công bằng.

5.2. Vai trò của các bên liên quan trong bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động

Các bên liên quan, bao gồm nhà nước, tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động, cần hợp tác chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong đình công ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ BẢO VỆ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG ĐÌNH CÔNG. Khái quát chung về đình công 1.1 Khái niệm Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra công cuộc đổi mới toàn diện, nhất là trong tư duy kinh tế. Đại hội VII của Đảng khẳng định đường lối đổi mới nền kinh tế và xã hội ở nước ta là “bước đầu đã hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”, đến Đại hội Đảng lần thứ IX và X tiếp tục khẳng định: “thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Điều này được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 là: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Trong cơ chế thị trường lợi ích là yếu tố chi phối nội dung và tính chất các mối quan hệ lao động.

Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động có sự thay đổi cơ bản khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trong cơ chế này, người lao động được tự do bán sức lao động, người sử dụng lao động có nhu cầu, được tự do thuê mướn theo quy định của pháp luật. Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người trong hệ thống tổ chức sản xuất xã hội. Sự hòa hợp giữa người sử dụng lao động với người lao động trong quan hệ lao động giữa chủ - thợ thường chỉ mang tính bền vững và ổn định tương đối, bởi trong quá trình lao động những cam kết tuy đã được các bên thỏa thuận nhưng vẫn có thể xảy ra vi phạm.

Sự vi phạm này dẫn đến bất đồng, mâu thuẫn tranh chấp và đỉnh cao của nó là đình công của người lao động với mục đích điều chỉnh hoặc tạo áp lực buộc người sử dụng lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : 9add luanvanchat@agmail.com thực hiện những cam kết đã thỏa thuận hoặc tạo lập những cam kết mới, thậm chí cả những yêu cầu vượt ra khỏi phạm vi của quan hệ lao động và khi đó khái niệm đình công xuất hiện. Thực tế lịch sử đấu tranh của giải cấp công nhân trên thế giới cho thấy có 3 hình thức đình công cơ bản đó là: Đình công vì lợi ích kinh tế: là hình thức đình công cơ bản và phổ biến, diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp hoặc ngành. Yêu sách mà tập thể người lao động đưa ra thuần túy là những lợi ích kinh tế hay nghề nghiệp, đôi khi không có yêu sách mà chỉ để hưởng ứng cho những cuộc đình công khác. Các cuộc đình công này thường ít gây bất ổn về mặt xã hội.

Đình công hỗn hợp: là hình thức đình công mà trong đó yêu sách của người lao động ngoài những đòi hỏi về lợi ích kinh tế còn kèm theo các lợi ích xã hội hay chính trị. Quy mô của hình thức đình công này thường ở phạm vi doanh nghiệp hoặc ngành, thậm chí nhiều ngành nghề, trên nhiều lĩnh vực của xã hội. Các cuộc đình công này thường có những hành động quá khích, có nguy cơ gây bất ổn định xã hội và thường để lại những hậu quả xấu. Đình công chính trị: là hình thức đình công, trong đó tập thể tham gia đình công không chỉ đơn thuần là người làm công ăn lương mà có thể bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, yêu sách của tập thể tham gia đình công đưa ra mang mục đích chính trị, như đòi hỏi thay đổi tổ chức bộ máy nhà nước, thay đổi thể chế chính trị… Các cuộc đình công này xảy ra thường gây bất ổn lớn về xã hội, không chỉ trong phạm vi doanh nghiệp, địa phương hay một vùng mà còn cả quốc gia.

Ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ khác nhau, tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội mà khái niệm đình công được nhìn nhận và xem xét ở các khía cạnh và góc độ khác nhau. Theo luật Lao động của Pháp (1975) thì “đình công là hành động của những người lao động làm thuê ngừng việc một cách LUAN VAN CHAT LUONG download : 10add luanvanchat@agmail.com tập thể, nhằm giành được sự cải thiện các điều kiện lao động hoặc tiền lương”. Theo quan niệm này thì đình công gần như không có sự khống chế về mặt phạm vi, cho phép tiến hành đình công trong nhiều doanh nghiệp, ngành nghề khác nhau, đây là một khái niệm tương đối rộng. Theo Luật lao động của Đức thì:“đình công là phương tiện cuối cùng được pháp luật bảo đảm cho người lao động và công đoàn của họ thực hiện các đòi hỏi chính đáng về tiền lương hoặc tạo nên sức ép đối với giới chủ sử dụng lao động để gây áp lực nhằm đạt một kết quả khả dĩ”.

So với Pháp, khái niệm đình công này có phạm vi bó hẹp hơn, chủ yếu giới hạn trong quan hệ chủ - thợ theo quan hệ lao động và chỉ coi đình công là biện pháp đấu tranh cuối cùng, do người lao động và tổ chức công đoàn tiến hành. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đình công là một dạng bãi công ở quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan, thường không kèm theo những yêu sách về chính trị”. Theo quan niệm này thì khái niệm đình công và bãi công có sự khác nhau ở quy mô và mục đích: đình công có quy mô nhỏ hơn bãi công và đình công có mục đích hẹp hơn, không bao gồm các mục đích chính trị, còn bãi công có mục đích rộng hơn, có thể bao hàm cả mục đích chính trị. Tuy nhiên, khái niệm trên chưa nêu được nét khái quát về hiện tượng đình công mà chỉ nhằm so sánh, phân biệt đình công và bãi công.

Tổ chức Lao động quốc tế ILO không quy định trực tiếp về đình công, coi quyền đình công là biểu hiện của quyền tự do liên kết, quyền tổ chức và thượng lượng tập thể của người lao động [10]. Theo quan điểm của ILO, quyền đình công được sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của người lao động. Như vậy ILO chủ yếu quan tâm đến phạm vi, mục đích của việc đảm bảo về hình thức biểu hiện của nó – mang tính chất định hướng của tổ chức quốc tế, không nhằm điều chỉnh trực tiếp vấn đề đình công như pháp luật của các quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : 11add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo các cuộc đình công chính trị và đình công hỗn hợp một cách hiệu quả để giành chính quyền.

Trong giai đoạn hiện nay, việc thừa nhận hình thức đình công chính trị hay hỗn hợp sẽ chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây bất ổn chính trị, xã hội do đó về mặt hình thức, nhà nước chỉ thừa nhận hình thức đình công vì lợi ích kinh tế. Xuất phát từ quan điểm này và trên cơ sở khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế ILO và kinh nghiệm của các nước về vấn đề này, tại điều 172 của Bộ luật lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2006 của nước ta đưa ra khái niệm về đình công: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể”. Theo đó, giới hạn nội dung đình công theo quan điểm trên là đấu tranh vì lợi ích kinh tế trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo phù hợp điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam và đình công được coi là quyền mà pháp luật trao cho tập thể lao động sử dụng để đạt được lợi ích khi mà các phương thức giải quyết tranh chấp khác không đạt được mục đích của họ.2 Đặc điểm của đình công Thứ nhất, đình công là biểu hiện bằng sự ngừng việc tạm thời của người lao động. Đây là dấu hiệu cơ bản nhất, giữ vai trò trung tâm, liên kết các dấu hiệu khác tạo nên hiện tượng đình công.

Sự ngừng việc của đình công được hiểu là phản ứng của những người lao động bằng cách không làm việc, không xin phép. Trong ý thức của những người ngừng việc và trên thực tế, sự ngừng việc này chỉ diễn ra tạm thời, trong một thời gian ngắn. Thời gian ngừng việc cụ thể của mỗi cuộc đình công sẽ tùy thuộc vào từng hoàn cảnh nhưng họ không dự định ngừng việc lâu dài, không bỏ việc. Điều đó có nghĩa là ngừng việc chỉ là hình thức thể hiện, là cách phản ứng, không phải là mục đích mà LUAN VAN CHAT LUONG download : 12add luanvanchat@agmail.com người lao động mong muốn đạt được.

Trong thời gian đình công, quan hệ lao động vẫn tồn tại và người lao động vẫn có thể tiếp tục làm việc sau đình công. Tuy chỉ là hình thức ngừng việc tạm thời, nhưng mức độ ngừng việc của người lao động khi đình công lại rất triệt để, ngừng việc hoàn toàn. Những người tham gia đình công thường không tiến hành làm việc theo như phạm vi quan hệ lao động đã xác lập giữa các bên, trừ trường hợp phải đảm bảo công việc tối thiểu trong phạm vi luật định (vì lý do an toàn xã hội chứ không vì lợi ích của người sử dụng lao động…) [27]. Đây cũng là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa đình công và lãn công.

Lãn công thường biểu hiện dưới dạng người lao động nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc lơ là, cầm chừng, chiếu lệ để đối phó…. Không tuân thủ kỷ luật, không sử dụng hết thời gian, công suất máy móc. Như vậy, lãn công không có sự ngừng việc triệt để như đình công. Pháp luật nước ta cũng không ghi nhận hiện tượng lãn công như những sự kiện pháp lý cần phải có sự điều chỉnh riêng biệt.

Đó không được coi là quyền của người lao động, khi đó người lao động có thể phải chịu các hình thức xử lý do vi phạm kỷ luật lao động. Thứ hai, đình công phải có sự tự nguyện của người lao động Đây là dấu hiệu về mặt ý chí của người lao động (bao gồm cả người lãnh đạo và người tham gia đình công), thể hiện ở việc họ được quyền quyết định và tự ý quyết định ngừng việc, tham gia đình công trong khi có thể có những cách giải quyết khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động trong đình công ở Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người sử dụng lao động trong bối cảnh đình công. Tài liệu này nêu rõ các quy định pháp luật hiện hành, những thách thức mà người sử dụng lao động phải đối mặt trong các cuộc đình công, cũng như các biện pháp bảo vệ quyền lợi của họ. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về cách thức quản lý và giải quyết các tình huống đình công, từ đó giúp họ có những quyết định sáng suốt hơn trong công việc.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại khu chế xuất khu công nghiệp khu công nghệ cao tphcm nguyên nhân và giải pháp, nơi phân tích nguyên nhân và giải pháp giảm thiểu đình công tại các doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls bảo vệ quyền của người sử dụng lao động trong pháp luật lao động việt nam và một số kiến nghị hoàn thiện sẽ cung cấp thêm thông tin về các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ vnu ls đình công và giải quyết đình công trong pháp luật lao động việt nam thực trạng tại thành phố đà nẵng 07, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực trạng đình công và cách giải quyết trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề đình công và quyền lợi của người sử dụng lao động.