Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN 1. Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn Trong mọi xã hội, trẻ em đều là đối tượng được Nhà nước và cả xã hội dành sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt, bởi đó là thế hệ tương lai của mỗi quốc gia và của nhân loại. Chính vì vậy, việc tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sự phát triển dần dần và đi tới sự phát triển một cách toàn diện về nhân cách, về lối sống, về nhận thức chính là việc bảo đảm cho trẻ em có được các quyền cơ bản. Các quyền này được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Đó là những cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Đặc biệt là việc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi cha mẹ ly hôn. Các quyền cơ bản của con theo quy định của pháp luật Như chúng ta đã biết, trước khi Liên hợp quốc được thành lập, các quốc gia đã thông qua Tuyên ngôn Giơnevơ năm 1924 về quyền trẻ em trong đó khẳng định trẻ em cần được chăm sóc đặc biệt. Tuyên ngôn về các quyền của trẻ em do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1959 khẳng định: “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt đẹp nhất” [10].
Tiếp đó, Điều 24 Công ước về các quyền chính trị - dân sự năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) nêu rõ: “Mọi trẻ em đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của gia đình, xã hội và nhà nước” [16]. Điều 10 Công ước về các quyền kinh tế - xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) quy định: “Thanh thiếu niên cần được bảo vệ và không bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc lột lao động trẻ em” [17]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (Công ước về quyền trẻ em). Theo quy định tại Điều 49 của Công ước thì Công ước về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 02/9/1990.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực châu Á và là nước thứ hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990. Phần lời nói đầu của Công ước xác định lý do để bảo vệ các quyền trẻ em là vì “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [18]. Với khẳng định trong phần Lời nói đầu, các quốc gia thành viên tiếp tục khẳng định một cách cụ thể, chi tiết hơn các quyền của trẻ em, gồm các quyền cụ thể như: Quyền về không phân biệt đối xử đối với trẻ em, quyền được có họ tên và quốc tịch, quyền được bảo vệ và chăm sóc, quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được học hành, quyền trẻ em trong trường học, quyền được sống trong môi trường lành mạnh, quyền được giải trí, quyền được thông tin, quyền được tổ chức hội họp, quyền được tự do bày tỏ ý kiến, quyền được bảo vệ chống lại sự ngược đãi, quyền được bảo vệ chống lại sự lạm dụng tình dục, quyền được nhận làm con nuôi, quyền được nhận sự chăm sóc đặc biệt, quyền được bảo vệ chống lại sự bóc lột, quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế, bảo vệ trẻ em chống mọi hình thức tra tấn và đối xử tàn tệ và bảo vệ trẻ em trước nạn ma tuý. Như vậy, theo quy định của Công ước về quyền trẻ em thì trẻ em có rất nhiều quyền và được bảo vệ trong cuộc sống.
Tuy nhiên, khi cha mẹ ly hôn quyền lợi của con cái bị ảnh hưởng rất lớn nên Công ước về quyền trẻ em cũng đã có quy định một số quyền rất có ý nghĩa và liên quan đến việc cha mẹ ly hôn như quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ. Nội dung của quyền này được thể hiện trong Công ước như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong trường hợp trẻ sống riêng với cha hoặc mẹ của mình, các em có quyền gặp gỡ với người cha hay người mẹ mà các em không được sống chung. Nếu vì một lý do nào đó mà một trong hai người đang ở nơi khác, trẻ em có quyền được biết nơi ở và tình hình của cha, mẹ mình. Khi cha mẹ không sống với con mình, họ cần phải chu cấp cho các em một khoản tiền trợ cấp đảm bảo cho các em cuộc sống đầy đủ [18].
Điều 9 Công ước còn quy định: Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng trẻ em không bị cách ly khỏi cha mẹ trái với mong muốn của họ, trừ trường hợp những nhà chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét của pháp luật quyết định là theo luật pháp và các thủ tục áp dụng thì việc cách ly như thế là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em. Quyết định như thế có thể là cần thiết trong trường hợp đặc biệt như trẻ em bị cha mẹ lạm dụng hay sao nhãng, hoặc khi cha mẹ sống cách ly và cần phải có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em [18]. Bên cạnh đó Công ước về quyền trẻ em còn quy định thêm về vấn đề này tại Điều 20 như sau: “Những trẻ em tạm thời hay vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình của mình, hoặc vì những lợi ích tốt nhất của chính bản thân mình mà không được phép tiếp tục ở trong môi trường ấy, có quyền được hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của nhà nước” [18]. Công ước về quyền trẻ em năm 1989 là điều ước quốc tế đa phương phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ.
Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và mối quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con người nói chung. Ở nước ta, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là đường lối nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cho đến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nửa cuối những năm 80, Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Nhà nước về nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới này.
Đường lối, chính sách đổi mới của Đảng đối với trẻ em được tiến hành theo cả chiều sâu và chiều rộng. Đường lối của Đảng về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được cụ thể hoá trong pháp luật. Và chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong suốt một thời gian dài kể từ khi đổi mới cho đến nay. Hàng loạt các văn bản có hiệu lực pháp lý cao đã ra đời nhằm thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng về trẻ em vào trong hệ thống pháp luật cho phù hợp với điều kiện mới và sau này được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCS&GDTE) năm 1991, năm 2004; Bộ luật Lao động năm 1994; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, năm 2005; Luật Giáo dục năm 2005; Luật Quốc tịch năm 2008; Bộ luật Hình sự năm 1999; Luật HN&GĐ năm 1959, năm 1980, năm 1986 và năm 2000 cùng các văn bản dưới luật khác để hướng dẫn thi hành.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn tổ chức triển khai và thực hiện nhiều chương trình hành động quốc gia vì trẻ em trên các lĩnh vực giáo dục, y tế và dinh dưỡng. Mặt khác, pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam đều bảo vệ quyền trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình. Trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, trẻ em được xem như một công dân, hơn thế, là một công dân đặc biệt.
Và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em được điều chỉnh dưới góc độ là phạm trù của quyền con người. Do vậy, Luật Hiến pháp bảo vệ quyền trẻ em bằng việc quy định các quyền cơ bản nhất của trẻ em, bao gồm quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục. Đồng thời, Luật Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội trong việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản này. Theo quy định của Luật Quốc tịch, trẻ em với tư cách là một cá nhân, nên quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em.
Quốc tịch là căn cứ để trẻ em được hưởng sự bảo hộ pháp lý của Nhà nước, là một trong những điều kiện cơ bản để xác định tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho đến khi chết. Cũng như các ngành luật khác, Luật Hành chính coi trẻ em là một đối tượng đặc biệt nên khi quy định trách nhiệm hành chính đối với trẻ em, Luật Hành chính đều có quy định riêng áp dụng đối với trẻ em vi phạm hành chính. Luật Hành chính còn tạo ra một cơ chế quản lý đối với trẻ em vi phạm hành chính bao gồm các biện pháp xử lý hành chính như giáo dục tại xã phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng và các tổ chức, cơ sở nhằm giáo dục trẻ em, đưa trẻ em trở lại cuộc sống bình thường. Pháp luật Hình sự có chính sách hình sự riêng đối với người chưa thành niên nhằm bảo vệ người chưa thành niên khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định trách nhiệm hình sự nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực hiện tội phạm.
Ngoài ra, Luật Tố tụng hình sự - ngành luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của Luật Hình sự - cũng bảo vệ quyền trẻ em theo tính chất đặc thù riêng của mình.