Chương 1, nhằm làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Trong Chương 2, hoạt động tổng hợp tiếp tục được sử dụng nhằm cho thấy sự cần thiết, cũng như các yếu tố tác động đến việc bảo vệ quyền lợi của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Ở Chương 3 và Chương 4, kết quả của sự tổng hợp là cơ sở ban đầu cho các đánh giá, phát hiện chuyên sâu hơn. Phối hợp cùng các phương pháp và hoạt động kể trên, đề tài được thực hiện với những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Thứ nhất, phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng nhằm đưa ra các đánh giá, bình luận chuyên sâu đối với các cơ sở pháp lý, học thuyết pháp lý, cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan.
Trong đó, phương pháp phân tích luật viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình thực hiện Luận án. Thông qua quá trình phân tích, tác giả nhận diện được điểm tích cực và điểm còn hạn chế của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Phương pháp phân tích luật viết được thực hiện thông qua những cách thức cụ thể như: phương pháp phân tích câu chữ, phương pháp phân tích phát triển, phương pháp phân tích lịch sử.16 Phương pháp phân tích được kết hợp với các phương pháp khác và sử dụng xuyên suốt Luận án. Từ Chương 3, phương pháp phân tích luật viết được sử dụng nhằm mang đến cái nhìn rõ nét và chuyên sâu hơn đối với pháp luật Việt Nam, cũng như các quốc gia khác trên thế giới.
Ở Chương 3 và Chương 4, thông qua việc phân tích cụ thể từng nội dung pháp luật về xác định cha, mẹ cho con, xác định nguồn gốc, quốc tịch, quyền thừa kế và các nội dung khác có liên quan, tác giả nhận diện được các lỗ hổng pháp lý cần khắc phục trong tương lai. 16 Xem thêm: Nguyễn Ngọc Điện (2021), Phương pháp phân tích luật viết, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 9 Thứ hai, phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để đối chiếu pháp luật của Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở từng thời kỳ, cũng như pháp luật của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
Một tác giả đã nhận định: so sánh các hệ thống pháp luật với nhau giúp thúc đẩy hài hoà hoá pháp luật trong các vấn đề vượt ra khỏi khuôn khổ quốc gia. 17 Việc chọn các quốc gia cụ thể để so sánh xuất phát từ những lý do nhất định. Các quốc gia như: Anh Quốc, Hoa Kỳ, Australia đều có nền y học hỗ trợ sinh sản phát triển, hệ thống pháp luật tương đối cởi mở và thực tiễn pháp lý rất phong phú. Cùng với đó, những quốc gia như Ấn Độ, Singapore hay Thái Lan là những quốc gia trong khu vực có nền văn hoá, xã hội tương đồng với Việt Nam.
Việc đánh giá tác động của các giá trị đạo đức – xã hội đối với pháp luật vì vậy cũng gặp nhiều thuận lợi hơn. Phương pháp so sánh được tác giả vận dụng nhiều trong các nội dung nghiên cứu từ chương thứ hai trở đi. Ở Chương 2, thông qua việc đối chiếu pháp luật thực định với nhu cầu sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, hay các vấn đề đạo đức – xã hội của Việt Nam, tác giả đã cho thấy sự cần thiết của việc bảo vệ quyền lợi của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Tại Chương 3 và Chương 4 việc so sánh pháp luật nước ngoài được lồng ghép trong các phân tích về pháp luật thực định Việt Nam.
Kết quả của việc so sánh là một trong những cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị hướng tới bảo vệ quyền lợi của người con. Thứ ba, phương pháp bình luận bản án, nghiên cứu tình huống pháp lý: Việc nghiên cứu bản án hoặc tình huống pháp lý giúp cho quá trình nghiên cứu đi sâu vào thực tiễn. Các vụ việc mang tính đại diện, điển hình có thể cho thấy rõ “khả năng hay xung đột lợi ích và các mối quan hệ xung quanh chúng” 18. Từ đó, tác giả phát hiện những vấn đề pháp lý chưa phù hợp hoặc còn bỏ ngỏ.
Các bản án được nhắc đến ở đây có thể là bản án trong nước hoặc ngoài nước, tương tự như vậy đối với các tình huống pháp lý. Đặc biệt, trong hoàn cảnh số lượng các bản án về quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam còn khá hạn chế, việc nghiên cứu các vụ việc điển hình tại một số quốc gia khác đóng một vai trò rất quan trọng. Phương pháp bình luận bản án hoặc tình huống pháp lý được tác giả sử dụng từ Chương thứ hai trở đi. Ở Chương 2, các tình huống thực tiễn được tác giả cung cấp nhằm cho thấy những vấn đề về đạo đức, xã hội đáng được quan tâm (liên quan đến quyền lợi của người con) khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng được áp dụng phổ biến.
Trong Chương 3 và Chương 4 các bản án nước ngoài thường xuyên được sử dụng để minh họa cho từng nội dung tương ứng. Các bản án được sử dụng có thể nêu 17 Phạm Duy Nghĩa, sđd (13), tr. 18 Phạm Duy Nghĩa, sđd (13), tr. 10 lên vấn đề gần gũi, tương tự đối với pháp luật Việt Nam hoặc những vấn đề mang tính dự báo về khả năng có thể phát sinh ở Việt Nam trong tương lai.
Trên hết, việc sử dụng và phân tích bản án hoặc vụ việc trên thực tế giúp cho Luận án kết hợp hài hoà giữa thực tiễn và lý luận. Các kiến nghị được đề xuất vì thế cũng có căn cứ và có khả năng được ứng dụng trong đời sống hơn. Phương pháp tiếp cận Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu kể trên, đề tài Luận án còn được tiếp cận với một phương pháp cụ thể. Phương pháp định tính được biết đến là một trong những cách thức tiếp cận quen thuộc, thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng.
Phương pháp định tính giúp cho chủ đề được khám phá một cách chuyên sâu, đặc biệt là khi việc làm sáng tỏ vấn đề không thể được thực hiện thông qua cách tiếp cận thống kê phân tích (định lượng).19 Thông thường, nghiên cứu định tính được chia thành hai loại: mô tả và đánh giá, trong nhiều trường hợp nghiên cứu đánh giá vẫn mang một hàm lượng mô tả nhất định. 20 Không nằm ngoài những điều kể trên, Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính, nhằm đưa ra các phân tích, đánh giá trên cơ sở tìm hiểu pháp luật thực định và thực tiễn pháp lý. Trong lĩnh vực pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cá nhân, “phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người” (hay còn được gọi tắt là HRBA - human rights-based approach) cung cấp một gợi ý hữu ích cho quá trình nghiên cứu Luận án. Việc vận dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người được thực hiện qua những bước cơ bản như: (i) Phân tích bản chất của vấn đề, xác định chủ thể chịu tác động và hệ thống các nguyên nhân.
(ii) Xác định các văn bản pháp luật có thể điều chỉnh vấn đề. (iii) Xác định các nhu cầu cơ bản của bên cần được bảo vệ và trách nhiệm của các chủ thể trong các hội. (iv) Phân tích và đưa ra đánh giá về năng lực của bên có quyền và bên có nghĩa vụ để xây dựng phương án bảo vệ phù hợp. (v) Cuối cùng, đưa ra biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề.21 Trong phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, việc trao quyền cho nhóm chủ thể dễ bị tổn thương và hướng tới việc đối xử bình đẳng là một trong những nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng.22 19 Simion Kristina (2016), “Qualitative and Quantitative Approaches to Rule of Law Research”, SSRN Electronic Journal, p.
20 Mc Conville Michael, Wing Hong Chui (2017), Research methods for law, Edinburgh University Press, p. 32 21 Xem Vũ Công Giao (2019), “Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và khả năng áp dụng vào hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18, tr. 22 Lê Xuân Tùng (2021), “Thực tiễn vận dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người trong hoạch định chính sách phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Điện tử Lý luận chính trị.vn/home/index.php/thuc-tien/item/3477-thuc-tien-van-dung-phuong-phap-tiep-can-dua-tren- quyen-con-nguoi-trong-hoach-dinh-chinh-sach-phat-trien-o-viet-nam.html 11 Trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền con người, Luận án đi sâu vào tìm hiểu về quyền lợi của người con dưới góc độ pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân - gia đình. Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, tác giả tham khảo hướng tiếp cận kể trên để xây dựng hướng tiếp cận cho nghiên cứu của mình.
Cụ thể, Luận án tìm hiểu về những đặc điểm sinh học của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và quá trình y học - kỹ thuật mà người con được mang thai và sinh ra. Từ kết quả này, cùng với việc so sánh, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, Luận án phát hiện những điểm bất lợi mà người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể phải đối diện. Đây là cơ sở để Luận án đưa ra nhận định về nhu cầu cần được bảo vệ của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Thông qua các lập luận, phân tích, cùng việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác, Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để quyền lợi của người con được bảo vệ một cách bình đẳng như những cá nhân khác trong xã hội.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 5. Ý nghĩa khoa học của Luận án Luận án cho thấy tầm quan trọng của pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động khoa học kỹ thuật nói chung và hoạt động sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu, Luận án cung cấp góc nhìn toàn diện hơn về những tác động của việc thực hiện hỗ trợ sinh sản đối với các nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội, mà đặc biệt là người con được sinh ra. Luận án góp phần thu hút sự quan tâm và bảo vệ một cách đúng mực đối với quyền lợi của người con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Kết quả nghiên cứu của Luận án hướng đến việc bảo vệ một cách công bằng và hài hoà lợi ích của các chủ thể trong xã hội.