Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên địa bàn thành phố Hà Nội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 13 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƢỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 1.
Khái quát chung về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 1. Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những phát minh vĩ đại của loài người mang lại niềm vui cho hàng triệu cặp vợ chồng trên thế giới. Edwards - là nhà sinh lý học người Anh tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu khả năng sinh sản ở người, đặc biệt là sinh sản bằng thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Để hiều rõ được vấn đề này trước hết cần tìm hiểu một số thuật ngữ chuyên ngành trong y học: Noãn là giao tử của người phụ nữ.
Tinh trùng là giao tử của người đàn ông. Phôi là sản phẩm giữa tinh trùng và trứng. Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm tạo thành phôi. Thụ tinh nhân tạo là việc bơm tinh trùng của chồng hoặc người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ để tạo thành phôi.
Ở Việt Nam, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản lần đầu tiên được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 12/2003/NĐ-CP về sinh con theo phương pháp khoa học: “Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm”. Đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, thì tại khoản 21 Điều 3 đã một lần nữa khẳng định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ mang tính chất pháp lý được xây dựng bằng phương pháp liệt kê do đó chưa thể giải thích được rõ thế nào là “sinh con bằng kỹ 14 thuật hỗ trợ sinh sản” như các định nghĩa dưới góc độ y học. Điển hình như định nghĩa trong Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng Y tế Hỗ trợ Sinh sản từ “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” (Assisted Reproductive Technology - A.) bao gồm tất cả các phương pháp điều trị sinh sản, trong đó cả trứng và phôi được xử lý bên ngoài cơ thể.
Nói chung, các thủ tục điều trị ART bao gồm lấy trứng trưởng thành khỏi buồng trứng của người phụ nữ bằng kim, kết hợp trứng với tinh trùng trong phòng thí nghiệm và trả lại phôi cho cơ thể người phụ nữ hoặc tặng chúng cho người phụ nữ khác.1 Mặt khác, ở trên thế giới còn một số định nghĩa khác được sử dụng để giải thích về “kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”. Đầu tiên, phải kể đến định nghĩa của Thư viện y khoa Hoa Kì: “Công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) được sử dụng để điều trị vô sinh. Nó bao gồm các phương pháp điều trị sinh sản xử lý cả trứng của phụ nữ và tinh trùng của đàn ông. Nó hoạt động bằng cách loại bỏ trứng khỏi cơ thể phụ nữ.
Trứng sau đó được trộn với tinh trùng để tạo phôi. Các phôi sau đó được đưa trở lại trong cơ thể của người phụ nữ”.2 Hay tiếp đến là định nghĩa của Viện sức khỏe và trẻ em Hoa Kì: “ART đề cập đến các phương pháp điều trị và thủ tục nhằm mục đích mang thai”.3 Ngoài ra, có thể kể đến định nghĩa của Cơ quan điều trị hỗ trợ sinh sản Victoria (VARTA), Tiểu bang Victory, Úc: “ART liên quan đến các công nghệ và các phương pháp có liên quan, được sử dụng để giúp người ta đạt được việc có thai. ART được sử dụng: như một biện pháp điều trị hiếm muộn cho các cặp; bởi những phụ nữ không thể trở nên có thai được nếu không được điều trị; bởi những phụ nữ không thể giữ được em bé trong thời gian mang thai hoặc không thể sinh nở được nếu không được điều trị; để làm giảm nguy cơ em bé thừa kế một bệnh hay một dị tật di truyền nào đó”.4 Hay là định nghĩa của bác sỹ Hồ Mạnh Tường – một trong những bác sỹ đầu tiên áp dụng kỹ thuật 1 https://www.gov/reproductivehealth/infertility/index.htm 2 https://medlineplus.html 3 https://www.gov/health/topics/infertility/conditioninfo/treatments/art 4 https://www.au/resources/translation/c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-h%E1%BB%97- tr%E1%BB%A3-sinh-s%E1%BA%A3n-assisted-reproductive-technology-art-l%C3%A0-g%C3%AC 15 ART tại Việt Nam: “Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm giúp làm tăng khả năng sinh sản. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ứng với tiến bộ về nội tiết học và sinh học để can thiệp trên giao tử ( tinh trùng, noãn) và phôi”.5 Từ các định nghĩa kể trên nhận thấy rằng có định nghĩa chỉ thu hẹp trong việc điều trị việc vô sinh, hiếm muộn; ngoài ra cũng có định nghĩa rộng hơn là nhằm mục đích mang thai.
Nói cách khác, đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, giải quyết được tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trường, hóa chất, hậu quả chiến tranh,…đem lại hạnh phúc và hi vọng cho không ít các gia đình Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Hiện nay có hai phương pháp chính được áp dụng đó là: thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm. Bởi lẽ, nước ta đã thể hiện rõ quan điểm chỉ công nhận hai phương pháp chính trên, không thừa nhận “sinh sản vô tính” 6.
Vì sinh sản vô tính là vấn đề mang tính toàn cầu và pháp luật nhiều nước cấm sinh sản vô tính người. Hơn nữa, người ta cũng cho rằng việc sinh sản vô tính ở người có thể đặt xã hội trước những thảm họa khôn lường như việc “xác định cha, mẹ con cho đứa trẻ được sinh sản bằng hình thức sinh sản vô tính, cũng như nhiều hệ lụy khác”.com/2009/11/21/art/ 6 Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản mà thế hệ con được sinh ra từ một cơ thể mẹ duy nhất, và thừa hưởng các gen chỉ từ cơ thể mẹ đó. Hình thức sinh sản này gần như không liên quan đến số bộ nhiễm sắc thể hay sự giảm phân. Thế hệ con sẽ là bản sao di truyền chính xác của cơ thể mẹ, ngoại trừ trường hợp đặc biệt là sự tự thụ phấn (automixis).
Một định nghĩa chính xác hơn là agamogenesis, là dạng sinh sản mà không cần sự hợp nhất của giao tử. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản chính của các sinh vật đơn bào chẳng hạn như vi khuẩn cổ, vi khuẩn, và sinh vật nguyên sinh. Ví dụ về sinh sản vô tính: Ở động vật ( Cừu Dolly, phân đôi ở trùng roi, nảy chồi ở thủy tức,…); Ở thực vật (cây thuốc bỏng mọc ra từ lá, sinh sản bằng bào tử ở rêu, củ khoai lang nảy chồi,…) 16 Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” là việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân để sinh con, được thực hiện theo các quy định của pháp luật. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tiêu biểu 1.
Thụ tinh nhân tạo Ngày nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nhiều nhất xoay quanh lĩnh vực sức khỏe sinh sản. Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh, hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo (Intra-Uterine Insemination còn gọi tắt là IUI) gọi là phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung, là việc lọc rửa tinh trùng để lựa chọn ra những tinh trùng khỏe mạnh nhất, bơm trực tiếp vào buồng tử cung của nữ giới (nữ giới được uống thuốc kích thích trứng rụng đúng thời điểm), từ đó “nhân tạo” ra những điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình thụ tinh như: những tinh trùng khỏe mạnh nhất được bơm vào đúng thời điểm, ở nơi gần trứng nhất, bỏ qua tất cả các bất thường như tinh trùng yếu, rối loạn phóng noãn hay bất thường ở cổ tử cung… 17 Sơ đồ 1.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo Sau khi gặp gỡ, thụ tinh và tạo thành phôi thai, phôi di chuyển xuống buổng tử cung và làm tổ tại lớp niêm mạc tử cung thì phương pháp thành công. Đây là kỹ thuật tương đối đơn giản, chi phí thấp nhưng hiệu quả cao và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn. Thường thì phụ nữ tìm đến phương pháp thụ tinh nhân tạo khi họ khó thụ thai hay cảm thấy khó có thể quan hệ tình dục qua đường âm đạo, ví dụ như: những người khuyết tật thể chất hoặc gặp phải vấn đề về tâm lý tình dục. Dưới góc độ pháp lý thì “Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh…”, do vậy kỹ thuật thụ tinh nhân tạo không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
Thụ tinh trong ống nghiệm Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) là quá trình kết hợp giữa tinh trùng (giao tử đực) với trứng (giao tử cái) để tạo ra hợp tử ở ngoài cơ thể mẹ - trong phòng thí nghiệm với môi trường sinh học nhân tạo.