CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HANH VE CHIA TÀI SAN CHUNG CUA VO CHONG KHILY HON 1. Khái niệm ly hôn va chia tai sản chung của vợ chẳng khi ly hôn. Khéi niệm ly hôn Trong quá trinh nghiên cứu sự phát triển của nhân loại, C Mác khẳng. định gia đính là một trong ba méi quan hệ của con người đã được hình thành trong lịch sử nhân loại: quan hệ thứ nhất là giữa con người với tự nhiên, quan hệ thứ hai là giữa con người với con người trong quả trình sản xuất, quan hệ thứ ba 1a gia đình Ba quan hệ này tổn tại dan xen với nhau, hòa quyên vào nhau, cing tôn tại bên nhau.
Tin nhân lá sự liên kết giữa nam va nữ được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đính và chung sống với nhau một cách hợp pháp, thông qua việc đăng ký kết hôn tại các cơ quan nha nước có thẩm quyên, xác lập niên quan hệ. xã hội gắn liên với nhân thân đó là quan hé vợ chồng, Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014: “Hôn nhân ia quan hệ giữa vợ và chẳng san. ‘kit kết hôn”. Thông thường, quan hệ hôn nhân co đặc điểm Ja tồn tại lâu dai, gin bó giữa vợ va chồng, được xây dựng bằng tỉnh yêu thương cũng như trách nhiệm với người bạn đời của minh.
Tuy nhiên, khi cuốc sông hồn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thấy giá tỉ ma cuộc hôn nhãn mang lại, họ lựa chon ly hôn xem như là một cách để giải thoát cho nhau khỏi những xung đột, mâu thuẫn zảy ra trong gia đình mà không thé tự giải quyết được. Khí đó, ly hôn la kết quả tất yếu, khách quan, nếu xét theo một số khia canh sẽ là có lợi cho vợ, chẳng cũng như các thành viên khác trong gia đình. ‘Nhung bên canh đó, ở một số khía cạnh, ly hôn cũng có mất hạn chế đó là sự ly tán của gia đính, vợ chồng, con cái. Hệ quả có thể nhận thấy rổ nhất đó là sự thiêu thốn vé mặt tình cảm giữa cha me và con cái, việc thiểu ving sự chăm sóc, day dỗ con cái từ một phía cha hoäc me dẫn đến đứa trẻ có thé sé không được phat sa ngã vào các tệ nạn zã hội, mắc chứng trằm cảm, tự tỉ với các bạn đồng trang lửa.
Nêu như kết hôn được xem lả điểm khởi đầu xác lập quan hệ vợ chẳng thi ly hôn có thé coi là điểm cuối của. hôn nhân kết thúc quan hệ vợ chồng khi quan hệ nảy thực sự tan rã. Trên thực tế, có rat nhiều nguyên nhân dẫn đền các cặp vợ chẳng quyết định ly hôn như không cùng quan điểm song, ngoại tinh, vợ hoặc chồng tham gia vào các tệ nan zã hội, mâu thuẫn kinh tế, bao lực gia đình,.Vì vậy, trước khi bước vào một cuộc hôn nhân, hai bên cân xem xét tat cả các khía canh để đâm bảo xy dựng một gia đính tron ven, hanh phúc và khi trong giai đoạn ôn nhân, không chỉ vo hoặc chẳng mả cả hai bên đều phải có nghĩa vụ vun vén, xây dựng hạnh phúc gia đinh để không dẫn đến hậu quả là ly hôn. Thực tế, ly hôn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến vợ, chồng và các thảnh viên trong gia đình ma còn ảnh hưởng đến sự dn định của xã hội vả sự phát triển.
của nên kính tế ‘Theo quan điểm của C.Ảngghen: “Ly hôn chi id việc xác nhân một sự lện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết Sự tén tại của nó. chỉ là bé ngoài và giả đất. Đương nhiên không phải sự ty tiện của nhà lập pháp cling không phải sự tiy tiên cũa những cá nhân mà chi là bản chất của sue kiên mới quyết đinh được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc chưa chết “Bãi vi. việc xác nhận sự tiện chết fy tude vào thực chất của vẫn dé chủ ning phải vào nguyên vong cũa nhieng bên hiểu quan.
Nhà lập pháp chỉ có Thể vác định những điễu kiện trong đỏ hôn nhân được pháp tan vỡ, ngiữa là trong đô, về thực chất hôn nhân tư nó aa bi phá vỡ rồi, việc Tòa an cho phép ‘phi bs hôn nhân chủ cô thé là việc ghi biên bản sự tam vỡ bên trong của nó Ly hôn theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc. Trong tửng giai đoạn phát triển của lịch sử ở mỗi chế độ xã hội khác. nhau giai cấp thống trị đều thông qua Nha nước, bằng pháp luật (hay tục lê) quy đính ché độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nha nước. Tức là nhà nước ‘bang pháp luật quy định những điều kiến nao xác lap quan hệ vợ chồng, đồng thời sác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép sóa bỏ (chim đứa) quan hệ hôn nhân, Ly hôn được coi 1a tất yêu, khách quan khi hôn nhân đã "chết 2, Tương tự với kết hôn, pháp luật của Nha nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chong, không hạn chế vả cam đoán việc ly hôn, nó là kết quả của hành vi có ý chi của vợ chẳng khi thực hiện quyên ly hôn của mảnh.
Không có hệ thống pháp luật nao buộc nam nữ yên nhau phải kết hôn và chung sông, duy tì cuộc hôn nhân khi vợ chống không củn tinh cảm, quan hé hôn nhân không thể cửu văn và mục dich của hôn nhân không thể đạt được Việc miễn cưỡng chung sống với nhau ma không dat được mục đích của cuộc hôn nhân không phải là kết quả mà nha nước mong muốn, bối nó sẽ gây ra nhiều hệ luy dén trật tự sã hội cũng như sự phat triển toản điện của con cái. Chính vi vậy, khi đã có những mâu thuất không thé hòa giải được thi việc ly hôn được cho là giai pháp hữu hiệu, mang lại những ý nghĩa nhất định cho vo, chồng cũng như các thành viên khác trong gia đỉnh Theo từ didn Bách khoa Việt Nam giã thích. “7y lồn là việc hat vợ chồng b6 quan hệ vo chồng chính thức, vì những nguyên nhân nào đó ma không dat được muc dich hôn nhân Việc ly hôn có thé xây ra 6 2 thời kỳ: sam Kit dam lỗi (rước lúc cưới) và san lúc cưới kiủ hai vợ chéng đã ăn 6 với nhan một thời gian dài, thâm chi san kit đã sinh con cái”. Cach hiển này là khái quát chung vẻ ly hôn và được dùng để giai thích cho moi người trong thực tế việc ly hôn là “hai vợ chéng từ bé quan hệ vo chéng chính thức” và đưa ra căn cứ ly hôn là “king đạt được muc đích Hôn nhân”.
Ngoài ra khối ˆ Bần Thị Tụ My 2071, “Cha ti sản đang ca vợ chẳng hi hân theo Luật Hin nhân và gid. 2014", Luận vn mật học, tường Đại học Lait Ha Nội, 10 Cú Mic, Pa Ange, Tot tp, Tp 1, Ea NG, 1978 119-121 10 ông đã ăn ở với nhan "2. quyét định theo yên cầm của vợ hoặc ci cách giải thích được sử dụng rông rai từ nghiên cứu pháp luật đến thực tị giải quyết các vụ việc ly hôn tại các tòa án. Theo khái niệm nảy, các nha làm.
luật đã dựa vào bản chất của kết hôn để xy dưng khái niêm ly hôn, dé là việc “châm dứt quan hệ vợ chéng”, nghĩa là khi đó giữa hai bên vo chồng không con tốn tại quan hệ hôn nhên, mọi quyền vả nghĩa vụ của hai bên sẽ được cơ quan có thẩm quyển la tòa án giải quyết một cách khách quan, công bang, đâm bảo quyển lợi của các bên. Theo Lê Nin “ue ra tự do ly hồn huyệt hông có nghĩa là làm “tan rã" những nỗi liên hệ gia định và ngược lai, nó cũng cổ những mi liên hệ đó trên cơ sở dân chủ, những cơ số duy nhất có. thé có và vững chắc trong xã hội văn minh? Tại khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân va gia định năm 2000 quy đính: “Ly ôn là chấm đứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhân hoặc quyết ãĩnhh theo yêu c của vợ hoặc của chông hoặc cä hai vợ ci is Kế thừa Luật HN&GD năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhân khái niệm ly hôn như sau: “Ly hôn la việc chẩm đứt quan hệ vợ chồng theo bản ám, quyết định có hiệu lực phápluật của tòa án ”Š Khái niệm ly hôn nay đã được ghi nhận một cách tổng thé va đây đủ khi xác định ban chất của ly hôn và căn cử pháp lý theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án Đồng nghĩa với việc, việc ly hôn chỉ được ghi nhân khi được tuyên bởi ‘ban án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án cỏ thẩm quyền, thông qua ` Bần Thị hs ay 2020), “Chat ăn dụng cũ wo chẳng Ws ý bên eo Luật Hồn nhận vì gà a "Ba 2014" In vinta s hật học, tường Đại học Lait Ha Nội, 12 "edi Mịchọc 31,1460 {VIELE Nn toantip tip 25 208 tin bg, Megrork, 1980, 35 * Hin l4 Điền Lait Hôn hán va ga đôn nấm 2014 ul việc nộp đơn khối kiện yêu cầu giải quyết ly hôn hoặc yêu cẩu tòa án công nhận thuân tình ly hôn. Bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án cũng là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện các quyển và nghĩa vụ cia minh sau khi ly ôn như nghĩa vu cập đưỡng, thăm nom, chăm sóc con cái,.
Khi giãi quyết ly hôn, tòa án phải tim hiểu kỹ nguyên nhân va bản chất của quan hệ vợ chẳng. lâm cơ sở để xem xét việc có thể han gắn cuộc hôn nhân hay ra quyết định chấm đứt quan hệ hôn nhân, ma mục dich cuối cing van la bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thảnh viên trong gia đỉnh để khi không còn la vợ chẳng, hai 'oên vẫn có đủ các điều kiện thuận lợi để sinh sống, lam việc, nuôi dưỡng con đái Nhu vậy, dựa trên nghiền cửu trong khoa học pháp lý nói chung va khoa học Luật HN&GB Việt Nam nói riêng có thể hiểu: "Ty hdn là sue Miện pháp If làm chẩm đứt các quyền và nghĩa vụ pháp If giữa vo chẳng theo bản án hoặc “yết định có hiệu lực pháp luật cũa tòa án 1.