CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRỢ GIÚP PHAP LY CHO TRE EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, đặc điểm trợ giúp pháp lý Pháp luật nước ta đã có quy định cụ thé về khái niệm trợ giúp pháp lý: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp ly miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp ly theo quy định của Luật nay, góp phan bảo đảm quyén con người, quyên công dân trong tiếp cận công lý và bình đăng trước pháp luật°[28, Điều 2]. Như vậy, so với khái niệm về “trợ giúp pháp lý” của Luật Trợ giúp pháp lý 2006, thì Luật Trợ giúp pháp lý 2017 đã quy định theo hướng phản ánh đúng nội hàm bản chất của trợ giúp pháp lý là một dịch vụ pháp lý miễn phí, giúp đỡ về mặt pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách, mang bản chất Nhà nước và phản ánh tính nhân đạo xã hội sâu sắc; Đã có sự phân biệt trong từng cụm từ của khái niệm, tránh gây nhằm lẫn giữa hoạt động trợ giúp pháp ly và hoạt động phô biến giáo dục pháp luật và hạn chế được tình trạng khi triển khai một số hoạt động TGPL tại các cơ sở hướng nhiều đến mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật vì đây không phải là chức năng chính của hoạt động TGPL. Theo đó, TGPL là việc nha nước bảo đảm việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý bằng các hình thức là tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng và các hình thức TGPL khác do Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, tư vấn viên pháp luật, thực hiện nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
Hoạt động TGPL là hoạt động của tổ chức, cá nhân nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý cho các đối tượng được TGPL theo quy định của pháp luật và các hình thức thiện nguyện của tô chức, cá nhân trong việc cung cấp dich vu pháp lý cho người dân. Chính vì vậy, TGPL có một số đặc điểm đặc trưng như sau: Về chủ thê thực hiện trợ giúp pháp lý là các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức hành nghề luật sư, tô chức tư van pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, chính trị - xã hội nghề nghiệp. Như vậy, xét về chủ thể thực hiện thì vừa mang tính chất nhà nước, vừa mang tính chất xã hội. Theo quy định tại Luật TGPL năm 2017, tại Khoản 1, Điều 4 có nêu “Tro giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước”.
Chính vì vậy, quy định về chủ thể thực hiện theo quy định tại Luật này khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách TGPL trên thực tế. Về người thực hiện trợ giúp pháp lý, theo quy định tại Điều 17 Luật TGPL năm 2017, đó là: Trợ giúp viên pháp lý; Luật sư thực hiện TGPL theo hợp đồng với Trung tâm hoặc luật sư thực hiện TGPL theo sự phân công của tổ chức tham gia TGPL; Tư van viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư van pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia TGPL; Cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Những quy định của Nhà nước về người TGPL yêu cầu sự chặt chẽ về trình độ, về kinh nghiệm, về kiến thức pháp luật và đặc biệt là sự quản lý của tổ chức thực hiện TGPL. Có sự thay đổi yêu cầu trong các tiêu chuẩn về người thực hiện TGPL qua thời gian dé đáp ứng yêu cầu về chất lượng TGPL cho người được TGPL.
Đây là một quá trình tat yếu. Về đối tượng được TGPL: có sự thay đổi khác nhau qua các thời kỳ và thời điểm hiệu lực của pháp luật về TGPL, song bản chất hoạt động TGPL hướng tới đối tượng là người nghèo, người có công với cách mạng, trẻ em, người dân tộc thiêu sô, người khuyết tật, người cao tuôi, phụ nữ, nạn nhân của 10 bạo lực gia đình và người nhiễm HIV. Đây là những người có thiệt thòi hơn trong xã hội về thê chất, tinh thần và kinh tế. Quy định những đối tượng thụ hưởng chính sách TGPL đã phán ánh đúng thực trạng về những người có khó khăn hơn trong xã hội.
Đánh giá được tính khách quan của những đối tượng mà Nhà nước cần hướng tới trong việc đảm bảo quyền bình dang và tiếp cận công lý của công dân. Về lĩnh vực TGPL: Hoạt động TGPL được thực hiện đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Quy định này cũng phản ánh bản chất của hoạt động TGPL là giúp đỡ những người có khó khăn về tài chính hoặc là người yếu thế trong quan hệ dân sự. Về hình thức thực hiện TGPL bao gồm: Tham gia tố tụng, Tư van phap luật va đại diện ngoai tố tụng.
Đây là những hình thức TGPL thực hiện thường xuyên, chủ yếu từ khi Nhà nước ban hành chính sách TGPL cho đến nay. Mục tiêu của hoạt động TGPL cũng xoay quanh các quy định liên quan đến các chế định pháp luật, đặc biệt là quan điểm về tranh tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Do đó, hình thức tham gia tố tụng đang được quan tâm và đây mạnh hơn nữa cả về chất lượng và sé lượng vụ việc. Về lệ phí: Người được TGPL không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí hay thù lao nào dưới bat kỳ hình thức nao.
Kinh phí hoạt động TGPL do ngân sách Nhà nước cấp; nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Về mục đích: Hoạt động TGPL nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật xảy ra. Góp II phần đảm bảo cho mọi công dân đều bình đăng trước pháp luật và đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận pháp luật. Trợ giúp pháp lý cho trẻ em 1.
Khái niệm trẻ em Trẻ em luôn là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía gia đình và xã hội, là thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến trong đời sống con người trên thực tế. Trên thế giới, trong các văn kiện pháp lý quốc tế, thuật ngữ trẻ em được sử dụng tương đối thống nhất. Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyên trẻ em năm 1989 quy định: “Trong phạm vi cua Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13, tr 16]. Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 thì ngưỡng tuổi trẻ em nói chung được xác định là dưới độ tuổi của người trưởng thành, thành niên 18 tuổi, do đó giai đoạn trẻ em kết thúc vào sinh nhật lần thứ 18 trừ trường hợp pháp luật áp dụng quy định độ tuổi trưởng thành sớm hơn.
Điều này được hiểu rằng, do “trẻ em” chưa phát triển đầy đủ về thê chất và tinh thần, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như người trưởng thành nên Công ước về Quyên trẻ em xác định tuổi trẻ em gắn với tuổi chưa thành niên và dé cho luật pháp các quốc gia quy định. Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tudi dậy thì. Trẻ em cũng có thé được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuôi nào) hoặc, với nghĩa ân dụ, hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tu" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ". Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thé áp dụng cho trẻ em, 12 tuôi trưởng thành được quy định sớm hơn." Hiệp nước này được 192 của 194 nước thành viên phê duyệt.
Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao gồm thai nhi. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành. Trẻ em nhìn chung có ít quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ. Các quốc gia trên thế giới thường lay mốc độ tuổi dé làm căn cứ xác định trẻ em, tuy nhiên cũng có những quy định khác nhau.
Theo pháp luật của Liên Bang Nga, “Trẻ em được hiểu là người chưa thành niên” (Điều 88, Điều 152 Bộ luật hình sự Liên Bang Nga) [31,tr74]; luật pháp các quốc gia quy định “/rẻ em là người dưới 20 tuổi”[L5.5] Việt Nam là trong những quốc gia đầu tiên tham gia ký công ước Quốc tế về quyền trẻ em CRC ngày 28/02/1990. Quyền trẻ em được quy định trong hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013. Quyền trẻ em cũng được thé chế hóa trong nhiều bộ luật và luật, quy định cụ thể và tập trung nhất vào Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018. Pháp luật Việt Nam quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi" [27, Điều 1] Như vậy, theo quy định của Luật trẻ em 2016 thì độ tudi của trẻ em Việt Nam thấp hơn so với một số nước và ngưỡng chung của Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em.
Tuy nhiên, đối tượng là trẻ em theo quy định của Luật trẻ em 2016 được sử dụng dưới nhiều thuật ngữ khác nhau ở các Luật khác nhau như “người chưa thành niên” [24, Điều 21]; “người dưới 18 tuổi” [25, Điều 91]; “thanh niên là công dân Việt Nam từ du 16 tuổi đến 30 tuổi” [29, Diéu 1]. Còn theo quy định cua Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 sử dung cụm từ “trẻ em” và “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Vì vậy, từ góc độ trợ giúp pháp lý, khi tiếp cận người dưới 18 tuổi thì có hai khái niệm cần phải được lưu ý đó là “rẻ em” và “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” thuộc điện được trợ giúp pháp lý.