Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Tình trạng khẩn cấp (state of emergency/state of public emergency/state of exception/state of alarm) đã có lịch sử pháp lý rất lâu dài [130], điều này đã được khẳng định tại những tư liệu cổ về pháp luật của đế quốc La Mã [36] Ngày nay, pháp luật về TTKC được ghi nhận ở nhiều quốc gia dưới mọi chế độ chính trị [36; tr. Ở Việt Nam, những văn bản pháp luật đầu tiên về TTKC đã được ban hành từ ngay sau khi ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nghiên cứu pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay có thể thấy các quy định còn khá chung chung, nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ thống, thiếu minh bạch, thiếu cụ thể dẫn tới khó khả thi. Ví dụ: Chưa có định nghĩa về TTKC, một số khái niệm về TTKC trong một số văn bản còn chưa có sự thống nhất.
Bên cạnh đó, sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản qui phạm pháp luật về TTKC, hệ thống pháp luật chưa có quy định để thấy rõ sự khác biệt trong TTKC và trường hợp bình thường. Những hạn chế của hệ thống pháp luật về TTKC ở Việt Nam hiện nay là do vẫn tồn tại những khoảng trống cả về lý luận và thực tiễn cần phải tiếp tục được làm sáng tỏ. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Các nghiên cứu lý luận về pháp luật tình trạng khẩn cấp Người đặt nền móng cho khái niệm hiện đại về tình trạng khẩn cấp là Carl Schmitt (1888-1985), trong cuốn “Political Theology: Four Chapters on the Concept of Sovereignty/Thần học chính trị: Bốn chương về khái niệm chủ quyền” [139] Carl Schmitt viết: Các yếu tố cơ bản liên quan đến TTKC được phát triển bởi Carl Schmitt tập trung vào chủ quyền, nhà nước và trật tự pháp lý xung quanh nó.
Carl Schmitt cho rằng: "Chủ quyền là người đã quyết định TTKC”, vì Carl Schmitt hiểu ngoại lệ liên quan đến TTKC như một đặc điểm liên quan đã tạo điều kiện cho nền kinh tế và các cuộc khủng hoảng chính trị gây 8 khó khăn cho Nhà nước và do đó, sẽ đòi hỏi đình chỉ các luật lệ và quy tắc thông thường để giải quyết các cuộc khủng hoảng đó. Carl Schmitt khẳng định TTKC thực sự phù hợp với định nghĩa pháp lý của chủ quyền, có hệ thống và nền tảng pháp lý logic, quyết định tình trạng khẩn cấp/ngoại lệ đúng như nghĩa của từ này. Nhìn chung, quan điểm của Carl Schmitt về quyền hạn khẩn cấp gắn liền với nỗ lực của ông để đối phó với vấn đề làm thế nào để duy trì ổn định chính trị, trật tự và hòa bình. Không phủ nhận Carl Schmitt được coi là tổ tiên của khái niệm hiện đại về TTKC.
Tuy nhiên, những lập luận TTKC của Carl Schmitt đã ủng hộ cho một nhà nước độc tài mà không nhận ra rằng bản sắc của trạng thái khẩn cấp, sự chuyển dịch và con người trong nhà nước hiện đại hiện nay. Walter Benjamin (1892-1940) là học giả đã có một số phản biện lại quan điểm về TTKC của Carl Schmitt, trong cuốn “On the Concept of History/Về khái niệm lịch sử” [126] Walter Benjamin cho rằng TTKC là quy luật và xã hội tất yếu phải đi đến một khái niệm lịch sử tương ứng với điều này. Theo đó, nhiệm vụ của xã hội lúc bấy giờ là đưa ra TTKC thực sự; và vị thế của của những người bị áp bức, bóc lột trong cuộc đấu tranh chống Chủ nghĩa phát xít nhờ đó sẽ được cải thiện. Nhờ đó, TTKC sẽ được nhìn nhận một cách tiến bộ với sự chuẩn mực của nó mà người đời sau phải ghi nhận.
Walter Benjamin đã tìm kiếm giải pháp triệt để hơn cho vấn đề TTKC. Có thể thấy rằng, TTKC thực sự của Walter Benjamin là không thể tách rời khỏi khái niệm nhà nước. Tác giả Giorgio Agamben (sinh năm 1942 tại Ý) là một học giả nổi tiếng, trong tác phẩm “State of exception/Tình trạng ngoại lệ” [150], ông đã phê phán mạnh mẽ quan điểm của Carl Schmitt về TTKC. Trong TTKC, Giorgio Agamben đề cập đến các trạng thái ngoại lệ, nơi các quyền hiến định có thể bị giảm bớt, thay thế và bị từ chối trong quá trình yêu cầu chính phủ mở rộng quyền lực.
Giorgio Agamben cho rằng trạng thái ngoại lệ đánh dấu một sự đảo ngược quyết định và có hệ thống của điều gần như không thể nhận thấy, sự đan xen giữa 'luật và sự sống'. Giorgio Agamben cũng xác định TTKC hoàn toàn về các biện pháp pháp lý-chính trị. Việc tuyên bố TTKC là sự duy trì luật trong sự 9 đình chỉ với tư cách là luật pháp. Giorgio Agamben nhận định, TTKC đã trở thành “mô hình thống trị của chính phủ trong nền chính trị đương đại”.
Hơn nữa, Giorgio Agamben nhận định TTKC là sự cho phép chính phủ hành động ngoài luật pháp và ngoài trật tự pháp lý. Giorgio Agamben phản đối việc kết hợp quá nhiều TTKC với chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism)1 hay chế độ độc tài (dictatorship). Trong bài “Agamben’s two missing factors: Understanding state of emergency through colonialism and racial doctrine/Hai yếu tố còn thiếu của Agamben: Hiểu về tình trạng khẩn cấp thông qua chủ nghĩa thực dân và học thuyết chủng tộc ” [151], tác giả Punsara Amarasinghe phân tích quan điểm lý thuyết về TTKC của Giorgio Agamben trong bối cảnh một diễn ngôn mới trong lĩnh vực luật công và triết lý chính trị. Tác giả đã chỉ ra hai điểm còn thiếu sót trong quan điểm của Giorgio Agamben về TTKC gồm: (1) Sự im lặng của Giorgio Agamben trong việc phân tích về trường hợp ngoại lệ rõ ràng đã bộc lộ sự thiếu chú ý đến sự tồn tại thời kỳ thuộc địa đã phá hoại sâu sắc việc xây dựng nhà nước ngoại lệ của ông; (2) Giorgio Agamben khi xây dựng ý tưởng về “ngoại lệ” về cơ bản bắt nguồn từ lịch sử của châu Âu và rõ ràng đã bỏ qua các vấn đề chủng tộc và thuộc địa.
Punsara Amarasinghe đã lập luận về quyền hạn khẩn cấp không hoàn toàn được tính toán vào việc ngăn chặn bất kỳ nguy hiểm nào hoặc hình thành mối quan hệ giữa người dân và chính quyền, mà là cơ chế cần thiết nhằm bảo vệ quyền lực chủ quyền và hỗ trợ quá trình quản trị đang diễn ra. Khả năng áp dụng TTKC trong việc hợp pháp hóa trật tự chính trị và thuần hóa các cộng đồng cụ thể khi họ trở thành thách thức đối với bộ máy nhà nước đã trở thành một hệ thống thói quen ở nhiều quốc gia châu Á-châu Phi. Đặc biệt là TTKC được ban bố ở Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka ở nhiều quốc gia các trường hợp trong trật tự thời hậu thuộc địa của họ là phản ánh đầy đủ rằng TTKC hoặc 1 Là thể chế, trong TTKC, của một cuộc nội chiến hợp pháp cho phép loại bỏ không chỉ các đối thủ chính trị, mà còn toàn bộ các nhóm dân cư phản đối việc hòa nhập vào hệ thống chính trị 10 thiết quân luật chỉ là cơ chế nhằm hợp pháp hóa trật tự chính trị và thuần hóa một số cộng đồng cụ thể mà không nhằm ngăn chặn bất kỳ một nguy hiểm nào. Bruce Ackermann trong tác phẩm “The Emergency Constitution/Hiến pháp khẩn cấp” việc xây dựng “quy tắc hiến pháp khẩn cấp” là cách tốt nhất để bảo vệ nền dân chủ và các quyền tự do dân sự cơ bản khi xuất hiện TTKC trong một xã hội [120].
Trong các vấn đề lý luận về TTKC, các học giả cũng đã thảo luận mối quan hệ giữa TTKC, chính trị và pháp luật. Tác giả Ralf Salam trong bài “The relationship between state of emergency, politics and the rue of law/Mối quan hệ giữa tình trạng khẩn cấp, chính trị và pháp quyền” [176] đã chỉ ra mối quan hệ giữa các TTKC, chính trị và pháp luật đã được tranh luận từ lâu và chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của các TTKC đối với pháp luật và chủ quyền của nhà nước. Tác giả cho rằng những khó khăn vẫn còn tồn tại trong việc xác định mối quan hệ giữa chính trị, luật pháp, nhân quyền và các TTKC. Lịch sử cho thấy TTKC có thể ảnh hưởng lớn đến chính trị và các khía cạnh pháp lý trong cuộc sống của một công dân bình thường.
Khi thảo luận về mối quan hệ giữa các TTKC và bình đẳng trước pháp luật, vai trò của chính trị đã được bảo vệ bởi chủ quyền. Tác giả nhấn mạnh rằng, TTKC thể hiện một thách thức đối với nền dân chủ. Tuy nhiên, bất chấp hậu quả của TTKC về quyền của công dân, TTKC luôn tồn tại trong tất cả các hệ thống chính trị và luật pháp trên thế giới, điều này là do nhu cầu chính trị của các quốc gia để thiết lập trật tự của mình. Theo tác giả Scott P.Sheen: “Reconceptualizing States of Emergency under International Human Rights Law: Theory, Legal Doctrine, and Politics/Khái niệm lại tình trạng khẩn cấp theo Luật Nhân quyền Quốc tế: Lý thuyết, Học thuyết Pháp lý và Chính trị” [179] tác giả đã giải thích nguồn gốc của khái niệm TTKC.
Theo đó, khái niệm TTKC có nguồn gốc lịch sử kéo dài từ thời La Mã. Nguồn gốc hiện đại của khái niệm TTKC như một khái niệm pháp lý đã ra đời từ Tây Âu thế kỷ XIX. Cơ sở lý luận về TTKC tương đối rõ ràng và là bắt nguồn từ bản chất của ngoại lệ. TTKC là tình huống đặc biệt và là nhu cầu 11 tự vệ của một quốc gia.
Sự tồn tại của các cơ chế như hạn chế quyền con người được coi là sự nhượng bộ đối với tính không thể tránh khỏi của tình trạng ngoại lệ trong thời gian khẩn cấp. Sự vi phạm trên dựa vào sự cân bằng giữa quyền con người với các mục tiêu chung như trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Tác giả đã phân tích khái niệm TTKC trong Công ước Châu Âu về Nhân quyền và trong các Công ước về Quyền con người của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, bài báo chỉ phân tích các khái niệm về TTKC chứ không đưa ra một khái niệm “tình trạng khẩn cấp” thống nhất.
Một số học giả Việt Nam đã nghiên cứu về TTKC, tuy không nhiều, nhưng cũng đã có những đóng góp đáng lưu ý. Tác giả Đoàn Văn Dũng trong bài “Quản lý xã hội trong tình huống bất thường” [31] đã nêu các quan niệm về tình huống bất thường, khái niệm quản lý xã hội trong tình huống bất thường. Đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra một số nét đặc trưng của tình huống bất thường: đặc trưng về chủ thể quản lý xã hội, đặc trưng về thể chế quản lý xã hội và đặc trưng về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước.