chương 1 là: (i) làm rõ khái niệm và đặc điểm của dữ liệu cá nhân; khái niệm và đặc điểm bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; (ii) phân tích tính cần thiết và ý nghĩa của bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; (iii) nội dung pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử. Khái quát về dữ liệu cá nhân và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử 1. Khái niệm và đặc điểm của dữ liệu cá nhân Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “dữ liệu là số liệu, tư liệu đã có, được dựa vào để giải quyết một vấn đề”.7 Theo đó, dữ liệu là thuật ngữ mô tả những thông tin, dấu hiệu cụ thể được thu thập, xử lý, lưu trữ. Với từng nhu cầu cụ thể, dữ liệu được thu thập có thể là những số liệu, văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, hoặc bất kỳ loại thông tin nào khác có thể được biểu diễn dưới dạng kỹ thuật số hoặc tương tự nhằm mục đích phân tích, đưa ra quyết định, hoặc truyền đạt thông tin.
Có thể nhận thấy khái niệm dữ liệu có nhiều nét tương đồng, có sự quan hệ chặt 7 Trung tâm Từ điển học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội, tr.269 13 chẽ với khái niệm thông tin và thường được xem là hai khái niệm phụ thuộc lẫn nhau. Dữ liệu là các số liệu, tư liệu ở dạng thô, không mang nhiều ý nghĩa cụ thể, có thể là các con số, ký tự, hình ảnh, âm thanh, video và nhiều dạng khác. Thông qua việc xử lý, phân tích và hiểu biết, dữ liệu trở thành thông tin có giá trị. Thông tin mang lại kiến thức, hiểu biết hoặc sự nhận thức về một vấn đề cụ thể và có thể được sử dụng để đưa ra quyết định hoặc thực hiện các hoạt động khác.
Như vậy, thông tin và dữ liệu là hai khái niệm không thể tách rời trong nhiều trường hợp, và mối quan hệ giữa chúng là một quá trình chuyển đổi từ dữ liệu chưa qua xử lý sang thông tin có ý nghĩa và giá trị. Liên quan đến các khái niệm trên, một số văn bản quy phạm pháp luật cũng đã đề cập, chẳng hạn: Luật Giao dịch điện tử năm 2023 định nghĩa “Dữ liệu là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự khác”8, hay Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 định nghĩa “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra”9. Như vậy, khái niệm về dữ liệu và khái niệm thông tin có một số điểm tương đồng: Thứ nhất, đều chứa đựng những số liệu, tư liệu mà thông qua đó người ta có thể nhận biết và xác định được các sự vật và hiện tượng liên quan đến một chủ thể nhất định. Những thông tin này cung cấp cái nhìn chi tiết, cụ thể về bản chất, đặc điểm và mối quan hệ của các yếu tố với chủ thể đó.
Thứ hai, những dữ liệu này được tiến hành thu thập và xử lý nhằm phục vụ mục đích cụ thể; Thứ ba, chúng tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau, bao gồm văn bản, âm thanh, hình ảnh, các bản ghi, … Trong đời sống xã hội, dữ liệu liên quan đến một cá nhân rất đa dạng. Do đó, việc xác định chính xác dữ liệu cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Làm cơ sở xác định phạm vi nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong các hoạt động liên quan sau này. Tại các quốc gia và khu vực, khái niệm DLCN có thể được hiểu là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến hoặc cho phép xác định một cá nhân nhất định (data subject - chủ thể dữ 8 Khoản 6 điều 3, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 9 Khoản 2 Điều 1, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 14 liệu)”.10 Dưới góc độ pháp lý, luật pháp một số nước đã ghi nhận khái niệm này như sau: Theo Điều 4.1 Quy định chung về bảo vệ dữ liệu năm 2016 của châu Âu (General Data Protection Regulation - GDPR), dữ liệu cá nhân là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến một chủ thể dữ liệu (data subject) đã được nhận định danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tính, dù trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể là bằng cách chỉ ra một định danh như tên, số định danh, dữ liệu vị trí, định danh trên mạng, hay một hoặc nhiều yếu tố chỉ định danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh lý, sinh thực, tâm lý, kinh tế, văn hoá, hoặc xã hội”11.
Hay theo Điều 2.1 Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân Singapore (PDPA) năm 2012, “dữ liệu cá nhân là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập”. Khái niệm DLCN đã xuất hiện và được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật với tên gọi thông tin riêng hay TTCN như: Luật Công nghệ thông tin 2006 hay Luật Viễn thông năm 2009. Theo đó, thông tin riêng là “thông tin riêng liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, vị trí máy gọi, vị trí máy được gọi, thời gian gọi và thông tin riêng khác mà người sử dụng đã cung cấp khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp”. Đến Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước mới quy định TTCN là “thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu.
Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác”.12 Tiếp đó, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử cũng định nghĩa TTCN là “các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, bao gồm tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, 10 OECD (2001), OECD Guidelines on the Protection of Privacy and Transborder Flows of Personal Data, truy cập <https://www.org/docserver/9789264196391- en.pdf?expires=1692348606&id=id&accname=guest&checksum=8439624FB41CDF8C478BEBFD7350C537>, ngày 08/11/2023 11 “personal data” means any information relating to an identified or identifiable natural person (‘data subject’); an identifiable natural person is one who can be identified, directly or indirectly, in particular by reference to an identifier such as a name, an identification number, location data, an online identifier or to one or more factors specific to the physical, physiological, genetic, mental, economic, cultural or social identity of that natural person. 12 Khoản 5 Điều 3, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP 15 thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật”13. Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng cũng đề cập đến thuật ngữ TTCN “là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính, nhân thân của cá nhân bao gồm tên, tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử và thông tin khác theo quy định của pháp Luật”. Thuật ngữ TTCN lần đầu tiên được được giải thích bởi một đạo luật là “thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể” trong khoản 15 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015.
Hiện nay, theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 13/2023/NĐ-CP, khái niệm DLCN được hiểu là: thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể. DLCN bao gồm: DLCN cơ bản và DLCN nhạy cảm. Trong đó, DLCN cơ bản bao gồm những thông tin như: nơi sinh, nơi đăng ký khai sinh, nơi thường trú, nơi tạm trú, nơi ở hiện tại, quê quán, địa chỉ liên hệ;… hình ảnh của cá nhân; số điện thoại,. số định danh cá nhân, số hộ chiếu, số giấy phép lái xe, số biển số xe, số mã số thuế cá nhân, số bảo hiểm xã hội, số thẻ bảo hiểm y tế; thông tin về tài khoản số của cá nhân; DLCN phản ánh hoạt động, lịch sử hoạt động trên không gian mạng.
DLCN là những dữ liệu cá nhân có liên quan đến nguồn gốc chủng tộc, nguồn gốc dân tộc; quan điểm chính trị, quan điểm tôn giáo;. Ngoài ra, dữ liệu cá nhân trong nhóm này còn bao gồm các thông tin về thuộc tính vật lý, đặc điểm sinh học riêng của cá nhân; các thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án; thông tin về đời sống tình dục hoặc khuynh hướng tình dục; thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, các tổ chức được phép khác14. Có thể nhận thấy, cách tiếp cận của Việt Nam đối với khái niệm dữ liệu cá nhân đã có sự thay đổi cho phù hợp với các quy định chung của quốc tế cũng như thực tiễn của thời đại kinh tế số. Về cơ bản, khái niệm này đã phản ánh sự tham khảo quy định chung được thừa nhận phổ quát trên thế giới.
Thông qua các khái niệm trên, có thể nhận thấy dữ liệu cá nhân có những đặc điểm sau: 13 Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP 14 Xem thêm khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 2 Nghị định số 13/2023/NĐ-CP. 16 Thứ nhất, bất kỳ dữ liệu nào liên quan đến một cá nhân, được thu thập một cách chủ động hay thụ động; Thứ hai, dữ liệu được xem là “có liên quan đến” một cá nhân phải được tiếp cận trên mọi phương diện như nội dung của dữ liệu, mục đích của dữ liệu hay kết quả của việc sử dụng dữ liệu; Thứ ba, dữ liệu “nhận dạng và có thể nhận dạng” sẽ bao gồm cấp độ rõ ràng.