Chương 1 MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT XỬ LÝ VIPHẠM. HANH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DUNG 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vục xây dung LLL Định nghĩa Trong cuộc sống hiện nay, không khó để chúng ta bắt gặp những cum từ liên quan đến vi phạm hành chính hay xữ lý vi pham hành chính. hành chính là cơ sở của việc xử lý vi phạm hành chính, do vay, việc nghiên cửu vẻ khải niêm hảnh vi vi pham hành chính có ý nghĩa lý luân quan trọng, giúp chúng ta hiểu đúng vé hành vi vi phạm hành chính, từ đó sác định được các vi phạm hành chính cu thé trong từng lĩnh vực quan lý nha nước.
‘Vi phạm hảnh chính lả loại vi phạm pháp luật xây ra khá phổ biển trong. đời sông xã hồi, gây thiệt hai hoặc de doa gây thiết hai cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể công đẳng, là nguyên nhân nay sinh các loại tôi phạm trên các Tinh vực cla đời sống xã hội nếu như không được xem xét và xử lý kip thời. Chính vì lẽ đó, công tac đầu tranh phòng và chống vi phạm hành chính luôn là van dé được xã hội quan tém, cùng với Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Chính phủ đã ban hành hang loạt các nghị định quy định cu thể về việc xử lý các vi pham hảnh chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hảnh chỉnh nha nước "Việc đưa ra định nghĩa chính thức vé vi phạm hảnh chính là hết sức cần thiết để từ đó có thể xác định rõ tính chất va mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, chính vi lý do đó, vẻ phương diên lý luôn cũng như thực tiễn, định nghĩa vi pham hành chính phải phan ánh được những dau hiệu đặc. trưng thể hiện đây đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm nay đồng.
thời cũng phải thể hiện được sư khác biệt giữa chúng với tôi phạm. ‘Theo pháp luật thực định, khái niệm vi pham hảnh chính lẫn đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh zử lý vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, cụ thể, Điều 1 Pháp lệnh nảy quy định “Vi pham hảnh chính lả hảnh vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cổ ý hoặc vô ý, sâm phạm các quy tắc quản lý nha nước ma không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bi xử lý hành chính”, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1905 không trực tiếp đưa ra định nghĩa vé vi pham hành chính nhưng khoản 2 điều 1 của Pháp lệnh nay đã định nghĩa vi phạm hảnh chỉnh một cách gián tiếp: *Xữ lý vi pham hảnh chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cổ ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nha nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định cia pháp luật phải bị xử lý hảnh chính”, sau đó, Pháp lệnh xử ly vi phạm hảnh chính năm 2002 cũng định nghĩa một cách gián tiếp khái niệm vi phạm hảnh chính tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh này, cụ thé: "Xử lý vi pham hành chính được áp dụng đổi với cá nhân, cơ quan, tổ chức (Sau đây gọi chung lé cá nhân, tổ chức) có hành vi cổ ý hoặc vô ý vi pham các quy định của pháp luật vẻ quản lý nha nước ma không phải là tôi pham va theo quy đính của pháp luật phải bị xử lý han chính Tuy không giống nhau trong cach diễn đạt nhưng các văn bản pháp luật niêu trên đều thông nhất với nhau về các dau hiệu bản chất của loại vi phạm. pháp luật nay và đến năm 2012, Luật zử lý vi pham hành chính năm 2012 đã trực tiếp đưa ra định nghĩa về vi pham hành chính quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật này, theo đó “Vi phạm hảnh chính là hành vi có lỗi đo cá nhân, tổ chức. thực hiện, vi pham quy định của pháp luật về quản lý nha nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành.
— Trên cơ sở của đính nghĩa chung vé vi pham hành chính nêu trên, chúng ta có thể hiểu ring vi pham pháp luật hành chính lä loại vi pham pháp luật có tính nguy hại không én cho xã hội. Tuy vây, chúng có tinh da dang và xảy ra phổ biển trong sã hội và vi phạm hanh chính trong lĩnh vực xây dựng không phải lả ngoại lệ. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng là hành vi vi pham pháp luật vẻ quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng của “Trường Đụ học Luật Hi NG: G01), Giáo minh Lute hành hi Fite Nơi, Nhb Công nhân dân, BÀ ng cá nhân, tổ chức, có lỗi, không phải la tôi phạm vả theo quy định của pháp uất phối bị xử lý vi pham hành chính. Các yếu tô câu thành vi phạm hành chính: Để sác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cân xác định các dau hiệu pháp ly của các yếu tố cầu thanh loại vi phạm pháp luật nay; vi phạm hành chính được cầu thành bởi bổn yếu tổ bao gom mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan vả khách thể.
* Mat khách quan Mất khách quan của vi pham hành chính là tổng hợp các dâu hiệu bên ngoái của vi phạm hành chỉnh, bao gồm các yêu tổ Thứ nhất, là hành vi tréi pháp luật hành chính. Hanh wi tréi pháp luật ‘hanh chính được thé hiện đưới dang hành động (chủ thể thực hiện những hảnh. vi bi pháp Iuét hành chính ngăn cắm) hoặc không hảnh động (chủ thể không thực hiến những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện) Nếu không có hảnh vi trái pháp luật hanh chính của chủ thé thì không thé có cấu thành vi pham hành chính. Cần tránh tình trạng áp dụng "nguyên tắc suy đoán” hoặc áp dụng "tương tự pháp luật” trong việc sác định vi phạm hảnh chính đối với cả nhân, thức.
Thứ hai, là hau qua do hành vi trải pháp luật hành chính gây ra cho xã hội. Hành vi trái pháp luật hanh chính 6 những mức độ khác nhau déu có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thé gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những. thiết hại về vat chất, tinh than vả những thiết hai khác cho xế hồi. Mức đô nguy hiểm cho zã hội của vi phạm hành chính được đảnh gia, sắc định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội ma hành vi đó gây ra Thứ ba, là môi quan hệ nhân qua giữa hành vi trải pháp luật hành chỉnh.
với hậu quả ma nó gây ra. Điều nảy thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên. thực tế là hệ quả tat yêu của han vi trái pháp luật hanh chính, do chính hảnh vi trái pháp luật hảnh chính gây ra. Như đã nêu ở nội dung thứ hai, hêu quả của vi pham hành chính có thé là những thiết hại thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội.
Trong một số trường hop, đối với mét số vi phạm hanh chính cụ thể, nhà lâm luật quy định bênh vi của chủ thể chỉ bị coi là vi pham hành chính khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc sắc định môi quan hê nhân quả giữa hành vi trái pháp uất hành chính với hậu qua (sự thiệt hai của sã hội) mà nó gây ra là điều hết sức cân thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không. khoản 2 Điều 18 Nghị đính số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định zử lý vi phạm hanh chính trong lĩnh vực phòng, chồng thiên tai, khai thắc va bão vệ công trình thủy lợi, đê điều quy định xử lý hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiên giao thông qua công trình thủy lợi, trong đó, hành vi "điều khiển phương tiện thủy nội dia qua công trình thủy lợi" chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi nó gây hư hại cho công trình thủy lợi Thứ te là các yêu tô khác như. Thời gian thực biện vi pham hành chính, dia điểm thực hiện vi phạm hành chỉnh, phương thức, thủ đoạn thực hiện vi pham hành chính; công cu, phương tiên dùng để thực hiện vi pham.
hành chính. Vi dụ: Khoản 2 Điều 6 Nghỉ định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chỉnh phi quy định xử lý vi phạm hanh chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nan xã hõi, phòng cháy va chữa chảy, phòng, chồng bạo luc gia đỉnh quy định xử lý đối với các hành vi vĩ phạm quy định về bao đảm sự yên tinh chung, trong đó có hanh vi đùng loa phóng thanh, chiêng, trồng, còi, kèn hoặc các phương tiền khác để cỗ động ở noi công cộng ma không được phép của các cơ quan có thẩm quyền. Trong các yếu tổ nêu trên, thì hành vi trái pháp luật hành chỉnh là dâu. hiệu bất buộc phải có trong mặt khách quan của vi pham hành chính, các yêu tố còn lại có thể có hoặc có thể không, tủy thuộc vào từng loại vi phạm hảnh.
chính? * Mat chủ quan Mất chủ quan của vi pham hành chính là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hảnh vi, bao gồm các yết tổ 10 Thứ rất, là y của chủ thé vi phạm Lỗi là trạng thải tâm lý của chủ thể đổi với hành vi vi phạm của minh va hậu quả do hành vi đó gây ra, hoặc nói cách khác vi phạm hanh chính phải lả hanh vi có lỗi, thể hiện. đười hình thức cô ý hoặc vô ÿ. "hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho 28 hồi do hảnh vi của minh gay ra nhưng vẫn cố tình thực hién và mong muốn điểu đó xảy ra hoặc tuy không ‘mong muôn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xy ra Lẫi vô y thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy. hai của hành vi mặc di có thé hoặc cén phải nhận thức được hoặc nhân thức được nhưng cho rằng hậu quả không sảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả sây ra Thứ hai, là yên tổ mục dich.