Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do tác giả Phạm Thị Phương Thảo (mã sinh viên: 440507) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Minh Hồng tại Bộ môn Luật Hôn nhân và Gia đình, Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023). Đề tài thuộc nhóm nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu về quyền nhân thân trong quan hệ gia đình.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình". Trong bối cảnh kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, các giá trị chuẩn mực xã hội và cấu trúc gia đình có nhiều biến động. Tác giả chỉ ra thực trạng lối sống cá nhân chịu áp lực từ sự đề cao giá trị vật chất, dẫn tới sự gia tăng hiện tượng cha mẹ thờ ơ, thiếu trách nhiệm hoặc bạo hành, xâm hại con cái. Ngược lại, tình trạng con cái bất hiếu, ngược đãi cha mẹ già yếu cũng diễn ra phức tạp. Bên cạnh đó, sự phát triển của y học hiện đại làm xuất hiện các mối quan hệ mới như mẹ đơn thân sinh con bằng biện pháp khoa học hay mang thai hộ, gây lúng túng cho cơ quan chức năng trong việc xác định quan hệ pháp lý cha mẹ - con. Điều này đòi hỏi phải rà soát, đánh giá tính khả thi và hiệu quả áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.
  2. Phân tích nội dung các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng, chỉ ra các vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con.
  • Phạm vi không gian và địa bàn: Nghiên cứu lý luận và các quy định pháp lý hiện hành trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian và văn bản: Trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có sự so sánh lịch sử với pháp luật phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, các luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Quốc tịch năm 2008 và Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu pháp lý

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý được ghi nhận tại Từ điển Luật học (Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý, 2006): "quyền" là điều pháp luật công nhận cho cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm; "nghĩa vụ" là việc phải làm theo bổn phận. Về mặt lý luận, quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con được tiếp cận dưới hai góc độ:

  • Góc độ quyền con người: Là quyền tự nhiên gắn liền với sự kiện sinh đẻ, nuôi dưỡng, duy trì nòi giống và chức năng xã hội hóa cá nhân, được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em.
  • Góc độ pháp lý: Là tổng thể quyền và nghĩa vụ luật định gắn liền với giá trị tinh thần, tình cảm, huyết thống và các quyền công dân, mang tính chất phi tài sản, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao.

Về tình hình nghiên cứu, tác giả tổng hợp và kế thừa kết quả từ các công trình đi trước:

  • Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Linh Giang (2017) tại Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh về quy định và thực tiễn quyền nhân thân giữa cha mẹ và con.
  • Luận văn thạc sĩ của Ông Thị Mai (2016) tại Học viện Chính trị khu vực III về thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Nam.
  • Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hợi (2016) tại Học viện Hành chính về thực tiễn thi hành tại TP. Hà Nội.
  • Luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị An Khánh (2011) tại Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh về quan hệ giữa cha mẹ và con.
  • Luận văn thạc sĩ của Trần Văn Duy (2017) tại Đại học Cần Thơ về cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định nhân thân.
  • Bài viết tạp chí của Nguyễn Thị Lan (2012) trên Tạp chí Luật học về tình trạng lạm quyền của cha mẹ đối với con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật, phương pháp đối chiếu lịch sử pháp lý và phương pháp phân tích thực tiễn thực thi. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm các văn bản luật thực định của Việt Nam, văn bản pháp luật cổ, án lệ và các công trình khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con

Chương 1 làm rõ khái niệm và sáu đặc điểm đặc trưng của quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con:

  1. Có tính chất tác động qua lại, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.
  2. Gắn liền với nhân thân của chủ thể, không thể chuyển giao và không thể thỏa thuận thay đổi.
  3. Không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp của cha mẹ; con sinh ra trong hay ngoài giá thú đều bình đẳng về quyền lợi.
  4. Mang tính chất phi tài sản, hướng tới giá trị tinh thần, không quy đổi thành tiền và không bị kê biên.
  5. Gắn liền với sự cá biệt hóa của từng cá nhân, không bị phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.
  6. Xác lập trực tiếp trên cơ sở quy định pháp luật thay vì các giao dịch ý chí thông thường.

Tác giả phân tích mối liên hệ giữa quyền nhân thân và quyền tài sản: nghĩa vụ nuôi dưỡng (nhân thân) gắn liền với nghĩa vụ cấp dưỡng (tài sản) theo Điều 111 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; quyền đại diện, giám hộ cho con gắn với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo Điều 74 và trách nhiệm tài sản liên đới theo Điều 73.

Về tiến trình lịch sử pháp luật, tác giả hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của chế định này:

Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Đặc điểm quy định về quan hệ cha mẹ và con
Thời kỳ phong kiến Quốc triều hình luật (QTHL), Hồng Đức thiện chính thư (HĐTCT), Hoàng Việt luật lệ Thể chế hóa đạo đức Nho giáo (tam cương, hiếu đễ); Điều 36, 37 HĐTCT quy định nghĩa vụ nuôi dạy con; tội bất hiếu thuộc "thập ác" (khoản 7 Điều 2 QTHL); Điều 475 QTHL xử phạt cha mẹ đánh chết con; con tố cáo cha mẹ bị xử tội lưu (Điều 504 QTHL, Điều 306 Hoàng Việt luật lệ); cha mẹ có quyền từ con nếu con phá tán tài sản (HĐTCT 1476).
Thời kỳ Pháp thuộc Bộ Dân luật 1931 Duy trì quyền gia trưởng của cha mẹ (Điều 207); cấm bán gán con trừ nợ nhưng cho phép cho thuê mướn con vị thành niên chưa thoát quyền (Điều 208); quy định nghĩa vụ giáo huấn (Điều 218) và quyền giám hộ đương nhiên của mẹ khi cha chết.
Giai đoạn 1954 - 1975 Miền Bắc: Luật HN&GĐ 1959 (35 điều, 6 chương). Miền Nam: Luật Gia đình 1959, Bộ Dân luật 1972 Xóa bỏ tàn tích phong kiến; quy định cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy, cấm ngược đãi, giết hại trẻ sơ sinh (Điều 17, 18); con thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp (Điều 20).
Giai đoạn 1976 đến nay Luật HN&GĐ 1986, 2000, 2014; BLDS 2005, 2015 Mở rộng quyền trẻ em; phân định 3 nhóm quyền nhân thân (tình cảm đạo lý, quyền công dân, quyền đại diện); thừa nhận quyền bình đẳng tuyệt đối giữa các con; nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền trẻ em.

Chương 2: Nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 phân tích chi tiết các nhóm quy phạm điều chỉnh quan hệ nhân thân trong luật thực định:

Nhóm quyền, nghĩa vụ thể hiện mối liên hệ tình cảm, đạo đức:

  • Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ (Điều 69, 71, 72): Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập, không phân biệt đối xử theo giới tính hoặc tình trạng hôn nhân; không lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
  • Quyền và nghĩa vụ sau ly hôn (Điều 81 đến Điều 84): Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ quyền lợi mọi mặt của con, xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi (trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác). Người không trực tiếp nuôi có quyền, nghĩa vụ thăm nom không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng thăm nom để cản trở việc nuôi dưỡng thì có thể bị Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
  • Quyền và bổn phận của con (Điều 70, khoản 2 Điều 71): Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo và phụng dưỡng cha mẹ; cùng chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ ốm đau, già yếu, mất năng lực hành vi dân sự; con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú và có nghĩa vụ đóng góp thu nhập cho đời sống chung của gia đình.

Quyền đối với họ, tên, dân tộc, quốc tịch:

  • Họ tên (Điều 26 BLDS 2015): Xác định theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận; không có thỏa thuận thì theo tập quán; chưa xác định cha thì theo mẹ. Trẻ bị bỏ rơi xác định theo cha mẹ nuôi hoặc theo đề nghị của cơ sở nuôi dưỡng/người đang tạm thời nuôi dưỡng. Tên phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt bằng số hoặc ký tự phi chữ cái. Thay đổi họ tên cho con từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của con.
  • Dân tộc (Điều 29 BLDS 2015): Xác định theo cha đẻ, mẹ đẻ; nếu khác nhau thì theo thỏa thuận, theo tập quán hoặc theo tập quán của dân tộc ít người hơn. Tác giả dẫn chứng trường hợp trẻ A bị bỏ rơi được cha mẹ nuôi người dân tộc Thái nuôi dưỡng, sau đó tìm lại được cha mẹ đẻ là người Kinh thì A có quyền xác định lại dân tộc theo cha mẹ đẻ.
  • Quốc tịch: Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, tuân thủ nguyên tắc huyết thống; trẻ có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam không phụ thuộc vào nơi sinh.

Quyền, nghĩa vụ giám hộ và đại diện:

  • Theo Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự. Cha mẹ chịu trách nhiệm liên đới trong các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký hoặc tài sản kinh doanh của con.
  • Ngược lại, theo khoản 2 Điều 53 BLDS năm 2015, con đã thành niên là người giám hộ đương nhiên của cha mẹ khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự (ưu tiên người con cả hoặc người con được cha mẹ lựa chọn từ trước).

Hệ thống chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ nhân thân:

Hình thức chế tài Căn cứ pháp lý Hành vi và biện pháp xử lý
Hạn chế quyền của cha mẹ Điều 85 Luật HN&GĐ 2014 Áp dụng từ 01 đến 05 năm khi cha mẹ: bị kết án cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm con; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức. Tòa án chuyển quyền nuôi dưỡng cho người kia hoặc người giám hộ.
Xử phạt hành chính Nghị định 144/2021/NĐ-CP; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình (Điều 52); phạt tiền từ 10.000.000 đồng khi sử dụng công cụ gây thương tích hoặc bỏ mặc không cấp cứu; xử phạt hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha mẹ và con (Điều 56).
Truy cứu trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự 2015 Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu (Điều 185, phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm); Tội hành hạ người khác (Điều 140, cao nhất 03 năm tù); Tội bức tử (Điều 130, cao nhất 12 năm tù); Tội cố ý gây thương tích (Điều 134).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con và kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tập trung vào đánh giá thực tiễn thi hành và đề xuất giải pháp. Tác giả chỉ ra các điểm vướng mắc lớn trong áp dụng pháp luật:

  • Bất cập về thuật ngữ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 sử dụng các cụm từ mang tính định tính chưa có văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể, ví dụ như thế nào là người có "lối sống đồi trụy" để làm căn cứ hạn chế quyền của cha mẹ đối với con theo Điều 85.
  • Sự kiện pháp lý mới phát sinh: Cơ quan tư pháp lúng túng khi giải quyết quyền nhân thân trong các trường hợp mẹ đơn thân sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc tranh chấp phát sinh từ việc mang thai hộ thực tế; sự xung đột giữa nguyên tắc xác định cha mẹ theo sự kiện sinh đẻ và kết quả giám định gene (ADN).
  • Thực thi chế tài: Nhiều hành vi bạo lực gia đình, lạm quyền của cha mẹ chưa được phát hiện và xử lý kịp thời do tâm lý coi việc đánh đập con cái là quyền dạy bảo nội bộ của gia đình.

Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:

  1. Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các tiêu chí định tính tại Điều 85 nhằm tạo sự áp dụng thống nhất tại Tòa án.
  2. Hoàn thiện khung pháp lý về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và chế định mang thai hộ, bảo đảm tính thống nhất với quyền khai sinh, xác định họ tên, dân tộc cho trẻ.
  3. Tăng cường tuyên truyền pháp luật nhằm loại bỏ tư tưởng gia trưởng phong kiến, nâng cao hiệu quả thanh tra, can thiệp của cơ quan chức năng khi quyền lợi của con hoặc cha mẹ bị xâm phạm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các luật liên ngành (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Quốc tịch năm 2008, Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị định 144/2021/NĐ-CP).
  • Luận giải rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân nhưng chỉ ra mối quan hệ hữu cơ với bảo đảm tài sản (nuôi dưỡng - cấp dưỡng, giám hộ - bồi thường thiệt hại liên đới).
  • Khái quát quá trình chuyển biến từ việc bảo vệ tuyệt đối "quyền gia trưởng" và "đạo hiếu" trong pháp luật phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc sang nguyên tắc bình đẳng, dân chủ và bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật hiện đại.
  • Phát hiện các khoảng trống pháp lý liên quan đến tiêu chí xác định "lối sống đồi trụy" tại Điều 85 và các tình huống y sinh học mới phát sinh.

Về đóng góp, tác giả khẳng định đề tài trực tiếp đóng góp các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn thi hành; đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức, cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống pháp luật trên địa bàn cả nước, tuy nhiên văn bản nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích quy phạm, lý luận và các quy định pháp luật thực định; chưa xây dựng được hệ thống số liệu thống kê án lệ thực tế của ngành Tòa án qua các năm đối với từng nhóm tranh chấp nhân thân cụ thể.

Hướng nghiên cứu mở rộng được đặt ra là tiếp tục đi sâu vào thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp nuôi con sau ly hôn, việc thực hiện quyền thăm nom của bên không trực tiếp nuôi dưỡng, và giải quyết triệt để các xung đột pháp lý phát sinh từ công nghệ hỗ trợ sinh sản và việc xác định cha mẹ - con qua giám định gene.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình trong việc tìm hiểu hệ thống lý luận và lịch sử chế định nhân thân.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Chấp hành viên, Luật sư tham khảo khi giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình liên quan đến hạn chế quyền của cha mẹ, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
  • Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch tại địa phương phục vụ nghiệp vụ đăng ký khai sinh, xác định họ, tên, dân tộc cho trẻ bị bỏ rơi hoặc trẻ có yếu tố cha mẹ nuôi.

Phần nội dung so sánh tiến trình lịch sử (từ Quốc triều hình luật, Hồng Đức thiện chính thư đến Bộ Dân luật 1931) và hệ thống hóa các khung chế tài hành chính - hình sự là những phần có giá trị tra cứu cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận giải thích mối quan hệ giữa quyền nhân thân và quyền tài sản giữa cha mẹ và con như thế nào? Quyền nhân thân và quyền tài sản có sự liên hệ mật thiết. Điển hình là nghĩa vụ nuôi dưỡng (nhân thân) gắn liền với nghĩa vụ cấp dưỡng (tài sản). Theo Điều 111 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con thành niên không sống chung có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ khi cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình, hoặc khi con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Tương tự, người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải cấp dưỡng; quyền giám hộ, đại diện của cha mẹ (nhân thân) gắn với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra (Điều 74) và chịu trách nhiệm tài sản liên đới (Điều 73).

2. Pháp luật phong kiến Việt Nam quy định chế tài gì đối với hành vi xâm phạm quan hệ cha mẹ và con? Trong Quốc triều hình luật, bất hiếu là một trong mười tội ác (thập ác). Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ bị xử tội lưu đi châu xa (Điều 504 QTHL, Điều 306 Hoàng Việt luật lệ); người phạm tội đồ lưu có cha mẹ già trên 70 tuổi không ai chăm sóc được chuộc bằng tiền để về nuôi dưỡng (Điều 17 QTHL). Ngược lại, Điều 475 QTHL quy định nếu cha mẹ đánh chết con cháu bằng đồ có mũi nhọn thì xử tội đồ làm tượng phường binh, đánh chết bằng đồ khác xử làm khao đinh, cố ý giết tội nặng thêm một bậc; nếu con phá gia chi tử không nghe lời, cha mẹ có quyền làm đơn xin từ con (HĐTCT 1476).

3. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong những trường hợp nào? Căn cứ khoản 1 Điều 85, cha mẹ bị hạn chế quyền khi thuộc một trong các trường hợp: (1) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý; (2) Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; (3) Phá tán tài sản của con; (4) Có lối sống đồi trụy; (5) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Thời hạn hạn chế quyền là từ 01 đến 05 năm.

4. Quy định về việc xác định lại dân tộc của con được phân tích ra sao trong khóa luận? Theo Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015, con sinh ra được xác định dân tộc theo cha mẹ đẻ; nếu cha mẹ thuộc hai dân tộc khác nhau thì theo thỏa thuận, theo tập quán hoặc theo tập quán của dân tộc ít người hơn. Khóa luận phân tích nguyên tắc huyết thống là yếu tố quyết định: trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi tạm thời xác định dân tộc theo cha mẹ nuôi, nhưng khi xác định được cha mẹ đẻ thì trẻ có quyền xác định lại dân tộc theo cha mẹ đẻ (ví dụ trường hợp con nuôi xác định lại từ dân tộc Thái của cha mẹ nuôi sang dân tộc Kinh của cha mẹ đẻ).

5. Cơ quan nhà nước đang gặp vướng mắc thực tiễn nào trong việc xác định quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con theo tác giả? Tác giả chỉ ra cơ quan chức năng còn lúng túng trong việc xác định cha mẹ - con đối với các trường hợp người mẹ đơn thân sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản và các trường hợp mang thai hộ xảy ra trên thực tế; sự xung đột giữa chứng cứ sự kiện sinh đẻ và chứng cứ giám định gene. Ngoài ra, việc thiếu văn bản hướng dẫn tiêu chí xác định "lối sống đồi trụy" tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng gây khó khăn cho Tòa án khi xem xét hạn chế quyền của cha mẹ.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Phương Thảo đã làm rõ các cơ sở lý luận, tính chất pháp lý phi tài sản và tiến trình phát triển lịch sử của chế định quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con tại Việt Nam. Công trình phân tích có hệ thống các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan, từ các quyền thể hiện tình cảm, đạo đức, quyền đối với họ tên, dân tộc, quốc tịch đến các chế tài hạn chế quyền, xử phạt hành chính và xử lý hình sự. Đồng thời, đề tài đã chỉ ra những vướng mắc thực tiễn trước các vấn đề mới phát sinh và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, đóng góp nguồn tài liệu học thuật có giá trị cho nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật hôn nhân gia đình.