Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là nguyên tắc nền tảng được ghi nhận xuyên suốt trong hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế, tiêu biểu là Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam đã phê chuẩn ngày 20/02/1990. Điều 37 Hiến pháp năm 2013 hiến định rõ: "Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em". Trên cơ sở đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, đồng thời thiết lập chế định hạn chế quyền của cha, mẹ tại Điều 85 như một chế tài pháp lý nhằm xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng.

Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn cho thấy nhiều bậc phụ huynh thực hiện việc nuôi dưỡng, giáo dục con theo bản năng mà chưa nhận thức đầy đủ nghĩa vụ pháp lý. Tình trạng con chưa thành niên bị bạo lực thể xác, bạo lực tâm lý, bỏ rơi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục hoặc bị xúi giục phạm tội vẫn diễn biến phức tạp. Mặc dù pháp luật đã có quy định, chế định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trên thực tế rất ít khi được áp dụng, còn mang tính hình thức và tồn tại nhiều khoảng trống về cơ chế thực thi.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ một số vấn đề lý luận, phân tích thực trạng các quy định pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chế định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
  2. Làm rõ nội dung chế định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và những văn bản pháp luật khác có liên quan.
  3. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực.
  4. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và thực tiễn áp dụng các quy định này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các vấn đề lý luận cơ bản; nội dung các quy định pháp luật thực định của Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016); tham chiếu pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp, Đức; và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam kể từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực đến năm 2023.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản của cha mẹ đối với con cái trong luật hôn nhân và gia đình. Quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên có các đặc trưng: gắn liền với tư cách nhân thân không thể chuyển giao, bao hàm cả quyền và nghĩa vụ đi kèm, được thực hiện trước hết vì lợi ích tốt nhất của con, và do pháp luật ấn định chứ không thể tùy tiện thỏa thuận thay đổi. Hạn chế quyền của cha mẹ là biện pháp chế tài có thời hạn (từ 1 đến 5 năm), tước bỏ tạm thời một số quyền nhân thân và quyền tài sản cụ thể mà không làm chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ huyết thống hay nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ.

Cơ sở pháp lý được sử dụng trong khóa luận bao gồm:

  • Điều ước quốc tế: Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 37); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các Điều 69, 71, 73, 76, 82, 85, 86, 87); Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 21, 53, 54, 136); Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 29, 35, 39, 40, 187, 366, 369, 370, 371); Luật Trẻ em năm 2016 (các Điều 5, 6, 52); Luật Hộ tịch năm 2014 (Điều 15); Nghị định số 02/2013/NĐ-CP về công tác gia đình.
  • Pháp luật nước ngoài: Bộ luật Gia đình bang Texas (Mục 161.001, 161.006), Đạo luật bang Georgia (Điều 2, Title 15), Đạo luật bang Minnesota (Điều 260C.301) của Hoa Kỳ; Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 375-7, Điều 378); Bộ luật Dân sự Đức - BGB (Điều 1666 về Entziehung der elterlichen Sorge).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định của Việt Nam với Hoa Kỳ, Pháp, Đức); phương pháp chứng minh; phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn thu thập từ báo cáo xét xử của ngành Tòa án.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu:

  • Văn bản quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế.
  • Các bản án, quyết định giải quyết việc dân sự và xét xử hình sự được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân và số liệu thực tế tại Tòa án nhân dân cấp huyện (như TAND huyện Trực Ninh - Nam Định, TAND huyện Kiến Xương - Thái Bình, TAND thành phố Dĩ An - Bình Dương).
  • Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam của UNICEF, Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021–2030, cùng các công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo khoa học của các chuyên gia đầu ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề nền tảng về khái niệm, bản chất pháp lý, ý nghĩa và cơ sở xác lập chế định hạn chế quyền của cha, mẹ, đồng thời phân tích kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia.

Tác giả làm rõ nội hàm quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên bao gồm 5 nhóm quyền cơ bản:

  1. Quyền quyết định chế độ pháp lý về nhân thân của con (khai sinh, họ tên, quốc tịch, dân tộc, nơi cư trú theo Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014).
  2. Quyền và nghĩa vụ yêu thương, trông nom, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con.
  3. Quyền và nghĩa vụ giáo dục con chưa thành niên.
  4. Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên (Khoản 1 Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2014) và nghĩa vụ cấp dưỡng khi không trực tiếp nuôi con (Khoản 2 Điều 82).
  5. Quyền quản lý và định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên (Điều 76, 77 Luật HN&GĐ năm 2014).

Về khái niệm, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và Gia đình do Tòa án quyết định nhằm tạm thời không cho cha, mẹ thực hiện một số quyền nhất định đối với con chưa thành niên trong một khoảng thời gian xác định (từ 1 đến 5 năm) khi họ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với con. Chế định này có 3 đặc điểm:

  • Là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con khi bị xâm hại;
  • Chỉ tạm thời hạn chế một số quyền cụ thể chứ không làm chấm dứt quan hệ cha, mẹ và con.

Cơ sở xác lập chế định xuất phát từ 3 yếu tố: nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em; sự tương thích với các điều ước quốc tế về quyền trẻ em; và sự kế thừa các giá trị truyền thống, đạo lý gia đình Việt Nam.

Đối sánh pháp luật quốc tế, tác giả phân tích sự khác biệt giữa mô hình can thiệp của Việt Nam và các nước phương Tây:

Quốc gia Hình thức chế tài chính Thẩm quyền & Căn cứ áp dụng Hậu quả pháp lý đối với quan hệ cha mẹ - con
Việt Nam Hạn chế một số quyền cụ thể có thời hạn (1 đến 5 năm). Tòa án nhân dân cấp huyện; dựa trên 5 căn cứ tại Điều 85 Luật HN&GĐ 2014. Không làm chấm dứt quan hệ cha mẹ - con; cha mẹ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Hoa Kỳ (Texas, Georgia, Minnesota) Chấm dứt quyền phụ huynh (Termination of Parental Rights - TPR). Tòa án gia đình/vị thành niên; căn cứ vào việc bỏ rơi, lạm dụng nghiêm trọng, không cấp dưỡng 12 tháng, phạm tội hình sự. Chấm dứt vĩnh viễn và hoàn toàn mọi quyền, yêu cầu pháp lý đối với con (phục hồi rất hạn chế và phức tạp).
Pháp Tước toàn bộ quyền (Déchéance de l'autorité parentale) hoặc hạn chế một phần. Tòa án tư pháp; căn cứ Điều 378 BLDS Pháp (bị kết án trọng tội/khinh tội xâm phạm con, nghiện rượu/ma túy, ngược đãi). Mất quyền nuôi dưỡng, giáo dục, đại diện; có thể bị tước toàn bộ hoặc áp dụng biện pháp giám sát thay thế.
Đức Tước quyền chăm sóc (Entziehung der elterlichen Sorge) hoặc hạn chế quyền. Tòa án gia đình; căn cứ Điều 1666 BGB (sức khỏe, thể chất, tinh thần của trẻ bị đe dọa nghiêm trọng do cha mẹ lạm dụng hoặc bỏ mặc). Chấm dứt một phần hoặc toàn bộ quyền chăm sóc, đại diện hợp pháp; chuyển giao quyền cho người giám hộ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Chương 2 đi sâu phân tích 4 nội dung cốt lõi của pháp luật thực định Việt Nam:

1. Căn cứ hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên (Khoản 1 Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2014):

  • Cha, mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý: Đây là căn cứ có độ xác thực pháp lý cao nhất dựa trên bản án hình sự đã có hiệu lực.
  • Cha, mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Thể hiện qua các hành vi bỏ mặc, không cung cấp thức ăn, y tế, bạo lực thể xác hoặc tâm lý, từ chối thực hiện nghĩa vụ làm cha mẹ.
  • Cha, mẹ có hành vi phá tán tài sản của con: Tự ý định đoạt, chiếm dụng hoặc làm thất thoát tài sản riêng của con chưa thành niên không vì lợi ích của con.
  • Cha, mẹ có lối sống đồi trụy: Lối sống ăn chơi trụy lạc, nghiện ngập chất kích thích, cờ bạc, tàng trữ/sử dụng văn hóa phẩm khiêu dâm, bạo lực gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến nhân cách và đạo đức của con.
  • Cha, mẹ có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội: Ép buộc con bán dâm, buôn bán/vận chuyển ma túy, trộm cắp, đi ăn xin, cưỡng ép kết hôn khi chưa đủ tuổi hoặc xúi giục con tự hủy hoại bản thân (vi phạm Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016).

2. Thẩm quyền và chủ thể yêu cầu:

  • Thẩm quyền: Thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35, Điểm k Khoản 2 Điều 39 và Điểm c Khoản 2 Điều 40 BLTTDS năm 2015. Đồng thời, Tòa án có thẩm quyền tự mình ra quyết định hạn chế quyền khi xét xử vụ án hình sự đối với cha mẹ (kể cả TAND cấp tỉnh).
  • Chủ thể có quyền yêu cầu (Điều 86 Luật HN&GĐ năm 2014): Cha, mẹ còn lại; người giám hộ; người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình (Bộ VHTTDL, UBND các cấp); cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (Bộ LĐ-TB&XH, UBND các cấp theo Điều 52 Luật Trẻ em năm 2016); và Hội Liên hiệp Phụ nữ. Cá nhân, tổ chức khác có quyền đề nghị các chủ thể này đứng đơn yêu cầu.

3. Thủ tục giải quyết:

  • Được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại BLTTDS năm 2015 (các Điều 366, 369, 370, 371).
  • Thời hiệu yêu cầu là 01 năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu. Đương sự phải nộp lệ phí theo quy định.
  • Viện kiểm sát cùng cấp bắt buộc phải nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 07 ngày và tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự.
  • Quyết định giải quyết việc dân sự được gửi cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và con chưa thành niên (nếu cần thiết) trong thời hạn 05 ngày làm việc, có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Hậu quả pháp lý và thời hạn hạn chế:

  • Hậu quả (Điều 87 Luật HN&GĐ năm 2014): Người bị hạn chế quyền không được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng và đại diện theo pháp luật cho con. Quyền này được chuyển giao cho bên cha/mẹ còn lại hoặc giao cho người giám hộ đương nhiên theo thứ tự quy định tại Điều 53, 54 BLDS năm 2015.
  • Nghĩa vụ: Người bị hạn chế quyền vẫn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên.
  • Thời hạn: Từ 01 năm đến 05 năm do Tòa án quyết định. Hết thời hạn, quyền đương nhiên được phục hồi. Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời hạn khi có yêu cầu và căn cứ hợp lý.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Chương 3 chỉ ra sự mâu thuẫn sâu sắc giữa số lượng hành vi vi phạm thực tế và số lượng vụ việc được giải quyết tại Tòa án.

Thực trạng áp dụng tại Tòa án: Trong gần 9 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, số lượng vụ việc yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ được Tòa án thụ lý là vô cùng hiếm hoi:

  • Tại TAND huyện Trực Ninh (tỉnh Nam Định), năm 2021 thụ lý 107 vụ việc hôn nhân và gia đình (40 vụ ly hôn, 60 việc thuận tình ly hôn, 7 việc hôn nhân khác), không có bất kỳ yêu cầu nào về việc hạn chế quyền của cha, mẹ.
  • Tại TAND huyện Kiến Xương và các TAND cấp huyện khác trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong năm 2020 cũng không thụ lý, giải quyết bất kỳ trường hợp nào liên quan đến hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Thực trạng không áp dụng biện pháp tự mình tuyên hạn chế quyền trong xét xử hình sự: Dù pháp luật cho phép Tòa án tự mình ra quyết định hạn chế quyền khi kết án cha mẹ về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con cái, thực tế xét xử các Thẩm phán hầu như chỉ tuyên hình phạt tù mà bỏ qua việc tuyên hạn chế quyền.

  • Vụ án điển hình: Vụ án Nguyễn Thị H (36 tuổi, trú tại tỉnh Bình Dương) và chồng là Võ Văn M có hành vi bạo hành, dùng mũ bảo hiểm và cây gỗ đánh đập dã man nhiều lần con gái là cháu K (15 tuổi) vào các ngày 10/10/2022 và 23/10/2022 gây đa chấn thương. Ngày 24/10/2022, giáo viên phát hiện thương tích và trình báo Công an phường An Bình, thành phố Dĩ An. TAND thành phố Dĩ An đã tuyên phạt Nguyễn Thị H 02 năm tù về tội "Hành hạ con", nhưng Hội đồng xét xử không áp dụng Khoản 2 Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2014 để tự mình tuyên hạn chế quyền của bị cáo đối với cháu K.

Nguyên nhân của những bất cập:

  1. Quy định pháp luật còn trừu tượng, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về các khái niệm định tính như "lối sống đồi trụy", "vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ".
  2. Thiếu hướng dẫn cụ thể về thủ tục, điều kiện Tòa án xem xét rút ngắn thời hạn hạn chế quyền dưới 1 năm hoặc trong khoảng 1 đến 5 năm.
  3. Tâm lý e ngại của người thân thích vì quan niệm "đóng cửa bảo nhau", sợ làm rạn nứt quan hệ gia đình.
  4. Cơ chế phối hợp giữa Tòa án hình sự, Tòa gia đình và các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Bộ LĐ-TB&XH, Hội Phụ nữ) chưa đồng bộ; các cơ quan này hiếm khi chủ động đứng đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án.

Nhóm giải pháp, kiến nghị hoàn thiện:

  • Hoàn thiện pháp luật: Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn cụ thể các căn cứ tại Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2014; quy định nghĩa vụ bắt buộc Tòa án hình sự phải xem xét, tuyên áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha, mẹ ngay trong bản án hình sự khi xét xử tội phạm xâm hại con; quy định rõ ràng trình tự, thủ tục rút ngắn thời hạn hạn chế quyền.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em cấp xã/huyện và Hội Liên hiệp Phụ nữ trong việc chủ động lập hồ sơ yêu cầu Tòa án; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ quyền trẻ em.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy định thực định: Phân tích làm rõ bản chất của chế định hạn chế quyền của cha, mẹ theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và mối liên hệ mật thiết với Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016.
  • Phát hiện khoảng trống thực tiễn: Khóa luận chỉ ra thực trạng "án ẩn" và sự tê liệt trên thực tế của chế định hạn chế quyền của cha, mẹ qua số liệu thống kê tại các địa phương (TAND huyện Trực Ninh năm 2021 thụ lý 107 vụ việc hôn nhân nhưng có 0 vụ hạn chế quyền; TAND huyện Kiến Xương và tỉnh Thái Bình năm 2020 ghi nhận 0 vụ). Đồng thời, phân tích thực trạng Tòa án không thực hiện quyền tự mình tuyên hạn chế quyền khi xét xử hình sự qua vụ án bạo hành tại Dĩ An, Bình Dương.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khắc phục tính lỗi thời của các công trình trước đây vốn dựa trên hệ thống văn bản cũ đã hết hiệu lực (Luật HN&GĐ 2000, BLTTDS 2004 sửa đổi 2011, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004); cung cấp cái nhìn đồng bộ, đa chiều và cập nhật đầy đủ thực tiễn áp dụng trong gần 9 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do số lượng các quyết định giải quyết việc dân sự về hạn chế quyền của cha, mẹ trên thực tế tại các Tòa án cấp huyện gần như không có hoặc rất hiếm khi được công bố công khai, dung lượng số liệu thống kê thực chứng của khóa luận còn khiêm tốn, chủ yếu tập trung vào các mẫu khảo sát tại một số Tòa án cấp huyện thuộc tỉnh Nam Định, Thái Bình và các vụ án hình sự điểm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tố tụng đặc thù giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên (như mô hình Tòa Gia đình và Người chưa thành niên); xây dựng quy chế phối hợp liên ngành có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ giữa cơ quan Công an, Tòa án, cơ quan Lao động - Thương binh & Xã hội và các tổ chức xã hội trong việc can thiệp khẩn cấp và giám sát sau khi Tòa án tuyên hạn chế quyền của cha, mẹ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình; Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân các cấp; cán bộ Tư pháp - Hộ tịch, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã/huyện; cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em.
  • Nội dung tham khảo giá trị:
    • Phần phân tích so sánh pháp luật quốc tế (Hoa Kỳ, Pháp, Đức) tại Chương 1 cung cấp nguồn tài liệu tham chiếu lập pháp hữu ích.
    • Hệ thống luận giải chi tiết 5 căn cứ tại Điều 85 và thủ tục giải quyết việc dân sự tại Chương 2 là tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ rõ ràng cho việc áp dụng pháp luật.
    • Các phân tích thực tiễn án văn tại Chương 3 làm rõ những rào cản tố tụng thực tế mà người làm công tác xét xử và bảo vệ trẻ em cần lưu ý.

Câu hỏi thường gặp

1. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên có làm chấm dứt hoàn toàn quan hệ cha mẹ - con hay không?
Không. Khác với chế định chấm dứt quyền phụ huynh (Termination of Parental Rights) tại một số bang của Hoa Kỳ mang tính vĩnh viễn, pháp luật Việt Nam quy định việc hạn chế quyền chỉ tạm thời tước bỏ một số quyền cụ thể (trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng, đại diện theo pháp luật) trong thời hạn từ 1 đến 5 năm. Quan hệ huyết thống không bị xóa bỏ và người bị hạn chế quyền vẫn bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

2. Những chủ thể nào có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014?
Theo Điều 86, các chủ thể gồm: cha hoặc mẹ còn lại của con; người giám hộ; người thân thích (ông bà, anh chị em, cô dì chú bác ruột...); cơ quan quản lý nhà nước về gia đình (Bộ VHTTDL, UBND các cấp); cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (Bộ LĐ-TB&XH, UBND các cấp); và Hội Liên hiệp Phụ nữ. Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện vi phạm có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức này đứng đơn yêu cầu.

3. Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ và giải quyết theo loại việc gì?
Thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người cha hoặc người mẹ bị yêu cầu hạn chế quyền cư trú hoặc làm việc (theo Điểm b Khoản 2 Điều 35 và Điểm k Khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015). Vụ việc được thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự (không có tranh chấp đối kháng), với sự tham gia bắt buộc của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

4. Khi cả cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền thì ai sẽ là người trực tiếp chăm sóc và quản lý tài sản của con chưa thành niên?
Theo Khoản 2 Điều 87 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 kết hợp Điều 53, 54 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng sẽ được chuyển giao cho người giám hộ đương nhiên theo thứ tự ưu tiên: anh ruột/chị ruột đã thành niên; nếu không đủ điều kiện thì đến ông bà nội, ông bà ngoại; tiếp theo là bác, chú, cậu, cô, dì ruột. Nếu không có người giám hộ đương nhiên, UBND cấp xã nơi trẻ cư trú có trách nhiệm cử người hoặc tổ chức đảm nhận việc giám hộ.

5. Thực tiễn xét xử hình sự các vụ án cha mẹ bạo hành con cái tại Tòa án hiện nay bộc lộ bất cập gì liên quan đến chế định này?
Mặc dù Khoản 2 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cho phép Tòa án tự mình ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ khi xét xử vụ án hình sự mà cha mẹ phạm các tội cố ý xâm phạm thân thể của con, thực tế xét xử (như vụ án bạo hành trẻ em tại Dĩ An, Bình Dương năm 2022) cho thấy Hội đồng xét xử hầu như chỉ tuyên phạt tội danh và hình phạt tù mà bỏ quên việc tự mình tuyên hạn chế quyền, dẫn đến khoảng trống bảo vệ quyền lợi của nạn nhân sau khi bản án được thi hành.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Xuân đã phân tích chuyên sâu và toàn diện chế định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 dưới góc độ lý luận, luật học so sánh và thực tiễn thi hành. Công trình đã phản ánh rõ nét khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật thực định và thực tế áp dụng tại Tòa án nhân dân các cấp qua các số liệu và vụ án điển hình. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật cùng giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, góp phần bảo vệ hiệu quả và kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất của con chưa thành niên tại Việt Nam.