Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do sinh viên Phạm Thị Phương Thảo thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ môn Luật Hôn nhân và Gia đình), dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Minh Hồng vào năm 2023.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Gia đình là tế bào của xã hội, cái nôi nuôi dưỡng và môi trường quan trọng hình thành nhân cách con người. Quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con cái là giá trị nền tảng được xây dựng dựa trên huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, chuẩn mực đạo đức và truyền thống dân tộc. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển và hội nhập quốc tế, nhiều yếu tố tiêu cực nảy sinh tác động đến mối quan hệ gia đình. Tình trạng đề cao giá trị vật chất, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm của cha mẹ, cũng như các hành vi bạo lực gia đình, xúc phạm, ngược đãi giữa cha mẹ và con có chiều hướng gia tăng.

Đồng thời, thực tiễn áp dụng pháp luật phát sinh nhiều vướng mắc mới như việc xác định quan hệ cha mẹ - con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu các quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GD) năm 2014 nhằm làm rõ nội dung, đánh giá tính khả thi và hiệu quả áp dụng là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua các nhiệm vụ:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.
  2. Phân tích, luận giải hệ thống quy định của Luật HN&GD năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh nhóm quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con.
  3. Khảo cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại.
  4. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học pháp lý; các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con trong Luật HN&GD năm 2014 và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu về nội dung và không gian: Các vấn đề lý luận và quy định thực định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con, triển khai trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về quyền con người, quyền trẻ em và các nguyên lý của khoa học pháp lý về quan hệ nhân thân trong luật dân sự và luật hôn nhân gia đình. Các văn bản pháp lý nền tảng được sử dụng bao gồm:

  • Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em.
  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 20, Điều 37).
  • Bộ luật Dân sự (BLDS) các năm 1931, 2005 và 2015 (đặc biệt là Điều 25, 26, 29, 53 của BLDS 2015).
  • Luật Hôn nhân và Gia đình qua các thời kỳ: 1959, 1986, 2000 và 2014 (trọng tâm là Chương V Luật HN&GD 2014).
  • Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 22).
  • Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008.
  • Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
  • Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (các Điều 130, 134, 140, 185).
  • Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, phòng chống bạo lực gia đình.
  • Các tư liệu pháp luật cổ Việt Nam: Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Hồng Đức thiện chính thư, Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, Hoàng Việt luật lệ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Mổ xẻ từng điều luật của Luật HN&GD 2014 và các luật liên quan để làm rõ cấu trúc quyền, nghĩa vụ và chế tài.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khái quát sự hình thành và phát triển của chế định quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con qua các giai đoạn lịch sử Việt Nam (phong kiến, Pháp thuộc, 1954–1975, 1976 đến nay).
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của Luật HN&GD 2014 với các văn bản trước đó (Luật 1959, 1986, 2000) và các văn bản luật chuyên ngành khác (BLDS, Luật Trẻ em, Luật Quốc tịch).
  • Phương pháp phân tích logic và hệ thống hóa: Đánh giá tính tương thích và liên kết giữa Luật HN&GD với BLDS, BLHS và các văn bản dưới luật.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến hiện đại.
  • Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó (luận văn thạc sĩ của Trần Thị Linh Giang 2017, Ông Thị Mai 2016, Trần Thị Hợi 2016, Đoàn Thị An Khánh 2011, Trần Văn Duy 2017; bài viết tạp chí của Nguyễn Thị Lan 2012; các giáo trình, từ điển luật học của Bộ Tư pháp và Viện Khoa học pháp lý).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và phân tích các cơ sở lý luận, thực tiễn cùng tiến trình lịch sử của chế định.

  • Khái niệm và đặc điểm pháp lý:
    • Khái niệm: Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con là tổng hợp các quy định pháp luật về các lợi ích tinh thần, tình yêu thương gắn bó giữa cha mẹ và con trên cơ sở quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và quyền công dân, không mang nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao.
    • Đặc điểm: (1) Mang tính chất tác động qua lại (quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia); (2) Mang tính chất phi tài sản; (3) Gắn liền với nhân thân chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch/chuyển nhượng; (4) Không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp của cha mẹ; (5) Được xác lập trực tiếp theo quy định của pháp luật.
    • Mối quan hệ với quyền tài sản: Nghĩa vụ nhân thân (nuôi dưỡng) gắn liền mật thiết với nghĩa vụ tài sản (cấp dưỡng - Điều 111 Luật HN&GD 2014); quyền đại diện/giám hộ nhân thân gắn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản do con gây ra (Điều 74) hoặc trách nhiệm liên đới trong giao dịch tài sản (Điều 73).
  • Cơ sở hình thành quy định: Xuất phát từ quyền con người tự nhiên (được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và Công ước Quyền trẻ em); cơ sở đạo đức, truyền thống hiếu nghĩa của dân tộc; sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn và bảo vệ nhóm yếu thế (trẻ em).
  • Khái quát tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam:
Thời kỳ Văn bản tiêu biểu Nội dung điều chỉnh quyền và nghĩa vụ nhân thân
Phong kiến Quốc triều hình luật (QTHL), Hồng Đức thiện chính thư (HĐTCT) Đề cao đạo hiếu theo Nho giáo. Bất hiếu thuộc mười tội ác (thập ác). Quy định nghĩa vụ cha mẹ tu thân, nuôi dưỡng, dạy bảo con; con cái phụng dưỡng, để tang 3 năm, cấm kiện cáo hoặc tố cáo cha mẹ (Điều 504, 511 QTHL). Cho phép người phạm tội đồ lưu được chuộc bằng tiền để nuôi cha mẹ già (Điều 17 QTHL).
Pháp thuộc Bộ Dân luật 1931 Duy trì quyền gia trưởng của cha mẹ; con cái phải hiếu thuận, cấp dưỡng, không được thưa kiện cha mẹ (Điều 207). Quy định quyền giám hộ trông nom thân thể và quản trị tài sản (Điều 218). Tuy nhiên còn tồn tại phân biệt con trai/con gái, con trong/ngoài giá thú và cho phép cha mẹ thuê mướn con vị thành niên chưa thoát quyền (Điều 208).
1954 – 1975 Miền Nam: Luật Gia đình 1959, Bộ Dân luật 1972
Miền Bắc: Luật HN&GD 1959
Miền Nam quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấm hành hạ, cấm vứt bỏ trẻ sơ sinh (Điều 17, 18, 20 Luật 1959). Miền Bắc xóa bỏ tàn tích phong kiến, xác lập nguyên tắc bình đẳng, hôn nhân tiến bộ xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp 1959 và Luật HN&GD 1959.
1976 đến nay Luật HN&GD 1986, 2000, 2014; BLDS 2005, 2015 Hoàn thiện thể chế gia đình tiến bộ. Luật HN&GD 2014 kết hợp đồng bộ với BLDS 2015 phân định rõ quyền nhân thân thành các nhóm: tình cảm - đạo đức, quyền gắn với quyền công dân, và quyền giám hộ/đại diện.

Chương 2: Nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của Luật HN&GD năm 2014 và các đạo luật liên ngành theo các nhóm nội dung:

  • Quyền và nghĩa vụ thể hiện mối liên hệ tình cảm, đạo đức:
    • Nghĩa vụ của cha mẹ (Điều 69, 71, 72): Yêu thương, tôn trọng ý kiến của con; trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự/không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình; giáo dục, làm gương tốt, định hướng nghề nghiệp; không phân biệt đối xử theo giới hoặc tình trạng hôn nhân; không lạm dụng sức lao động, không xúi giục con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức.
    • Quyền và nghĩa vụ của con (Điều 70, 71): Yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ; tham gia công việc gia đình; chăm sóc cha mẹ khi ốm đau, già yếu, khuyết tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, tham gia hoạt động xã hội.
    • Quan hệ sau ly hôn (Điều 81 đến Điều 84): Cha mẹ vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tòa án quyết định giao con căn cứ quyền lợi mọi mặt, xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên; con dưới 36 tháng tuổi ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở (trừ trường hợp lạm dụng bị Tòa án hạn chế).
  • Quyền đối với họ, tên, dân tộc, quốc tịch của con:
    • Quyền có họ, tên (Điều 26 BLDS 2015): Xác định theo họ cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận thì theo tập quán. Tên công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt bằng số hay ký tự. Thay đổi họ, tên cho con từ đủ 9 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của con.
    • Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29 BLDS 2015): Theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp khác nhau thì theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì theo tập quán (hoặc tập quán của dân tộc ít người hơn). Trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi xác định theo cha mẹ nuôi nhưng có quyền xác định lại theo cha mẹ đẻ khi tìm được huyết thống.
    • Quyền đối với quốc tịch: Căn cứ Luật Quốc tịch 2008, tuân thủ nguyên tắc huyết thống (chỉ cần cha hoặc mẹ là người Việt Nam thì con có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt sinh trong hay ngoài lãnh thổ).
  • Quyền, nghĩa vụ giám hộ và đại diện (Điều 73 Luật HN&GD 2014, Điều 53 BLDS 2015):
    • Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
    • Giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản đăng ký quyền sở hữu/sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con phải có sự thỏa thuận của cả cha và mẹ. Cha mẹ chịu trách nhiệm liên đới trong các giao dịch này.
    • Con đã thành niên là người giám hộ đương nhiên của cha mẹ khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự (theo thứ tự con cả, rồi đến các con tiếp theo hoặc theo sự lựa chọn trước đó của cha mẹ).
  • Chế tài xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ nhân thân:
    • Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85 Luật HN&GD 2014): Áp dụng khi cha mẹ bị kết án cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục ép buộc con làm việc trái pháp luật/đạo đức. Thời hạn hạn chế từ 01 đến 05 năm.
    • Xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 144/2021/NĐ-CP): Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích, sử dụng công cụ gây thương tích, không đưa nạn nhân đi cấp cứu; phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha mẹ và con (Điều 52, Điều 56).
    • Trách nhiệm hình sự (BLHS 2015): Truy cứu theo Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu (Điều 185, phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm); Tội hành hạ người khác (Điều 140); Tội cố ý gây thương tích (Điều 134); Tội bức tử (Điều 130, khung hình phạt tù cao nhất đến 12 năm).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con và kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tập trung đánh giá thực trạng áp dụng các quy định trên thực tế và đưa ra các giải pháp:

  • Đánh giá thực trạng: Việc triển khai quyền nhân thân đã bảo vệ tốt hơn quyền trẻ em và vị thế thành viên gia đình. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực gia đình, lạm quyền của cha mẹ, tư tưởng trọng nam khinh nữ và sự can thiệp thô bạo vào quyền nhân thân của con cái vẫn diễn biến phức tạp.
  • Những bất cập thực tiễn: Thiếu hướng dẫn cụ thể đối với một số khái niệm định tính như căn cứ "lối sống đồi trụy" để hạn chế quyền của cha mẹ (Điều 85); vướng mắc trong xác định thẩm quyền và căn cứ xác định quan hệ cha - mẹ - con trong các trường hợp mẹ đơn thân thụ tinh nhân tạo hoặc mang thai hộ khi có tranh chấp (căn cứ vào sự kiện sinh đẻ hay giám định ADN).
  • Kiến nghị và giải pháp:
    1. Ban hành văn bản hướng dẫn giải thích rõ các khái niệm còn trừu tượng trong Luật HN&GD 2014.
    2. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan hành chính và các tổ chức xã hội trong việc giám sát, can thiệp kịp thời bảo vệ trẻ em khi cha mẹ bị hạn chế quyền.
    3. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật nhằm xóa bỏ định kiến giới, nâng cao nhận thức về quyền bình đẳng của con cái trong gia đình.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con tại Việt Nam từ góc độ lịch sử và luật học thực định. Các kết quả cụ thể bao gồm:

  • Phân định rõ 03 nhóm quyền nhân thân cốt lõi theo Luật HN&GD 2014: nhóm quyền thể hiện tình cảm, đạo đức; nhóm quyền gắn liền với quyền công dân (họ tên, dân tộc, quốc tịch); và nhóm quyền về giám hộ, đại diện theo pháp luật.
  • Tổng hợp hệ thống chế tài đa tầng bảo đảm thực thi quyền nhân thân:
Loại chế tài Căn cứ pháp lý Biện pháp / Mức độ xử lý
Dân sự / Hôn nhân gia đình Điều 85 Luật HN&GD 2014 Tòa án tước quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, đại diện, quản lý tài sản của con trong thời hạn 01 - 05 năm.
Xử phạt hành chính Nghị định 144/2021/NĐ-CP (Điều 52, 56) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi bạo lực, cố ý gây thương tích hoặc ngăn cản quyền thăm nom.
Hình sự BLHS 2015 (Điều 130, 134, 140, 185) Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm (Điều 185) và cao nhất đến 12 năm tù (Điều 130).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp bằng cách ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các căn cứ hạn chế quyền của cha mẹ tại Điều 85 Luật HN&GD 2014.
  • Xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng xử lý các xung đột xác định quan hệ cha mẹ - con phát sinh từ tiến bộ khoa học y học (sinh con theo phương pháp khoa học, mang thai hộ).
  • Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan tư pháp trong việc phòng ngừa bạo lực và bảo vệ quyền nhân thân của trẻ vị thành niên.

Đóng góp về mặt học thuật

Tác giả đã kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đó (Trần Thị Linh Giang 2017, Ông Thị Mai 2016, Trần Thị Hợi 2016, Đoàn Thị An Khánh 2011, Trần Văn Duy 2017), đồng thời cập nhật phân tích mối liên kết giữa Luật HN&GD 2014 với các văn bản pháp luật mới có hiệu lực như BLDS 2015, BLHS 2015, Luật Trẻ em 2016, Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2022 và Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định Việt Nam dưới góc độ phân tích quy phạm và tổng hợp lý luận, chưa mở rộng nghiên cứu so sánh sâu với pháp luật hôn nhân và gia đình của các quốc gia trên thế giới. Dữ liệu thực tiễn về các vụ án cụ thể tại Tòa án các cấp chưa được trích xuất thành các số liệu thống kê định lượng chi tiết.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp quyền nhân thân giữa cha mẹ và con trong các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các trường hợp xác định cha mẹ - con phát sinh từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và công nghệ y sinh hiện đại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình làm tài liệu tham khảo nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực định về quyền nhân thân.
  • Cán bộ tư pháp, luật sư, hòa giải viên cơ sở tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình, tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn và xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hồng Đức thiện chính thư) đến hiện đại và bảng tổng hợp các chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con có những đặc điểm pháp lý cơ bản nào?

Theo khóa luận, quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con có các đặc điểm: (1) Mang tính chất tác động qua lại; (2) Mang tính chất phi tài sản (không quy đổi thành tiền, không thể mua bán hay kê biên); (3) Gắn liền mật thiết với nhân thân cá nhân nhất định và không thể chuyển giao, chuyển nhượng; (4) Tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp của cha mẹ; (5) Được xác lập trực tiếp dựa trên quy định pháp luật.

2. Cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong những trường hợp nào và thời hạn hạn chế là bao lâu?

Căn cứ Điều 85 Luật HN&GD 2014, cha mẹ bị hạn chế quyền khi: (1) Bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý; (2) Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; (3) Phá tán tài sản của con; (4) Có lối sống đồi trụy; (5) Xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Thời hạn hạn chế quyền là từ 01 năm đến 05 năm (Tòa án có thể xem xét rút ngắn thời hạn này).

3. Việc xác định họ, tên và dân tộc của con được pháp luật quy định như thế nào?

Theo Điều 26 và Điều 29 BLDS 2015:

  • Họ của con xác định theo họ cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận thì theo tập quán. Chưa xác định được cha đẻ thì theo họ mẹ đẻ. Tên phải đặt bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt bằng số/ký tự. Đổi tên cho con từ đủ 9 tuổi phải được con đồng ý.
  • Dân tộc của con xác định theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ; nếu khác nhau thì theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì theo tập quán (ưu tiên tập quán dân tộc ít người hơn). Trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi có quyền xác định lại dân tộc theo cha mẹ đẻ khi tìm lại được nguồn gốc.

4. Pháp luật phong kiến Việt Nam quy định chế tài đối với hành vi bất hiếu của con cái như thế nào?

Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), bất hiếu là một trong mười tội ác lớn (thập ác, Điều 2 khoản 7). Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ bị xử tội lưu đi châu xa (Điều 504 QTHL) hoặc phạt 100 trượng, đồ 3 năm (Hoàng Việt luật lệ). Nói dối có tang cha mẹ hoặc giấu tang bị xử tội đồ làm khao đinh (Điều 543 QTHL). Hành vi giết cha mẹ bị xử phạt lăng trì.

5. Hành vi xâm hại sức khỏe, đánh đập hoặc cản trở quyền thăm nom giữa cha mẹ và con bị xử lý hành chính ra sao?

Theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP:

  • Điều 52 quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình, sử dụng công cụ/vật dụng gây thương tích hoặc không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu.
  • Điều 56 quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (trừ trường hợp cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền thăm nom).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con theo pháp luật Việt Nam. Văn bản đã làm rõ cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp lịch sử và phân tích chi tiết các nhóm quyền, nghĩa vụ cùng hệ thống chế tài theo Luật HN&GD năm 2014 phối hợp với BLDS 2015 và BLHS 2015. Các đánh giá và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được xây dựng trên cơ sở thực tiễn áp dụng và yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em trong xã hội hiện đại.