CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm người chưa thành niên Để nghiên cứu khái niệm người chưa thành niên phạm tội, chúng ta cần làm rõ thế nào là người chưa thành niên. Người chưa thành niên là một khái niệm phổ biến được dùng nhiều trong nhiều ngành khoa học, nhưng ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học có những nhìn nhận về khái niệm người chưa thành niên khác nhau. Trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm người chưa thành niên trong từ điển tiếng Việt. Từ điển này không định nghĩa thế nào là người chưa thành niên nhưng ta có thể suy nó ra tử khái niệm người thành niên “Người thành niên là người đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ”1.
Từ đây có thể đưa ra khái niệm người chưa thành niên như sau: “Người chưa thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ quyền và nghĩa vụ”. Như vây trong khái niện này không diễn đạt một cách cụ thể độ tuổi nào là chưa thành niên nhưng chúng ta có thể hiểu thông qua độ tuổi mà pháp luật quy định cho một người có đẩy đủ các quyền và nghĩa vụ. Song ứng với mỗi ngành luât khác nhau, độ tuổi này cũng được quy định rất khác nhau, nhưng nhìn chung đa số các ngành luật đều quy định độ tuổi để được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ là từ đủ 18 tuổi trở lên. Từ đó có thể suy ra rằng người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.
Trên đây là một khái niệm theo cách hiểu thông thường, còn trong khoa học pháp lý thì người chưa thành niên là người chưa đạt đến một độ tuổi nhất định. Điều 18 bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Người chưa đủ 18 tuổi 1 Xem từ điển tiếng Việt, do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên - Nhà xuất bản Giáo dục, trang 833. 7 là người chưa thành niên”. Còn tại điều 119 Bộ luật Lao động 1995 (sửa đổi bổ sung năm 2002) được quy định về người chưa thành niên như sau: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi ”.
Như vậy trong khoa học pháp lý thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Đến đây có một vấn đề khác mà chúng ta không thể không chú ý. Đó là sự phân biệt khái niệm người chưa thành niên với khái niệm trẻ em vì đây là hai khái niệm có nội hàm gần giống nhau, cần làm rõ sự khác nhau giữa chúng để tránh nhầm lẫn. Để có một cách nhìn nhận thuyết phục hơn, chúng ta có thể nghiên cứu thêm khái niệm trẻ em trong pháp luật quốc tế.
Điều 1 Công ước về quyền trẻ em quy định “trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ trường pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.2 của “Quy tắc Bắc Kinh” cũng có đưa ra định nghĩa sau: “Người chưa thành niên là trẻ em hoặc người ít tuổi (tùy theo từng hệ thống pháp luật)”. Từ hai quy tắc trên chúng ta có thể thấy trong luật pháp quốc tế có sự đồng nhất giữa hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Và để phù hợp với luật quốc tế, nội hàm của khái niệm người chưa thành niên ở Việt nam như đã nói ở trên cũng trùng với nội hàm của khái niệm trẻ em trong luật quốc tế. Tuy nhiên trong phạm vi pháp luật quốc gia thì nước ta có sự phân biệt giữa hai khái niệm mày.
Trẻ em được quy định tại điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Như vậy chung ta có thể thấy hai khái niệm này là không đồng nhất với nhau. Khái niệm người chưa thành niên có nội hàm rộng hơn và bao gồm cả trẻ em. Từ đây chúng ta có thể phân biệt trẻ em là người chưa thành niên, nhưng người chưa thành niên chưa chắc là trẻ em vì có một bộ phận người chưa thành niên từ tuổi 16 đến dưới 18 tuổi không phải là trẻ em.
Sau khi đã làm rõ khái niệm người chưa thành niên, vấn đề tiếp theo chúng ta cần nghiên cứu là khái niệm người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên phạm tội là một khái niệm được dùng chủ yếu trong khoa học 8 pháp lý hình sự với tư cách là chủ thể của tội phạm. Đó là những người chưa thành niên đã thực hiện hành vi nguy hiểm đối với xã hội mà luật Hình sự qui định là tội phạm trong điều kiện họ có năng lực trách nhiệm hình sự, và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luât hình sự. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và có khả năng điểu khiển hành vi ấy.
Theo luật Hình sự Việt Nam, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại điều 13 Bộ luật Hình sự2, nghĩa là không ở trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Điều 12 Bộ luật hình sự quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Theo tinh thần của Điều luật này thì người chưa thành niên phạm tội được chia thành hai nhóm - Nhóm thứ nhất: Là nhóm người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nhóm này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi cố ý phạm tội rất nghiêm trọng (là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù) hoặc khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).
- Nhóm thứ hai là nhóm người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi, nhóm này phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2 Xem trang 114 Giáo trình Luật hình sự (phần chung) – Trường Đại học luật Hà nội – Nhà xuất bản Công an nhân dân - 2005 9 Như vậy theo quy định của luật Hình sự thì người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi người đó thực hiện tội phạm. Còn trong luật tố tụng hình sự thì thế nào là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên? Theo hướng dẩn của Tòa án nhân dân Tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1991 thì “Lúc phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nhưng khi đưa ra xét xử bị cáo là người đủ 18 tuổi thì Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng theo phiên tòa bình thường, tức là không bắt buộc phải có luật sư, cũng không nhất thiết phải cử hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vì lúc phạm tội họ là người chưa thành niên nên đường lối đối với họ là bắt buộc phải áp dụng theo đúng quy định tại chương VII bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”3.
Từ hướng dẫn trên chúng ta thấy trong pháp luật tố tụng hình sự việc xác định độ tuổi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thời điểm giải quyết vụ án chứ không phải là thời điểm người đó thực hiện tội phạm. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 một lần nữa khẳng định quan điểm này, tại điều 301 chương XXXII về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên quy định “Thủ tục tố tụng áp dụng đới với người bị bắt, người bị tam giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của bộ luật này không trái với những quy định của chương này”. Như vậy thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên chỉ được áp dụng đới với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, tức là những người đang ở độ tuổi từ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố, bị điều tra hoặc bị đưa ra xét xử chứ không phải tại thời điểm họ phạm tội. 3 Xem Phan Thanh Điền “Bắt, tạm giữ, tạm giam và giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên”, trang 33 Tạp chí Luật học số 3 năm 2002.
10 Qua những phân tích trên, chúng ta thấy thời điểm xác định độ tuổi chưa thành niên trong luật Hình sự và luật Tố tụng hình sự là không giống nhau. Mỗi một ngành luật trong hệ thống pháp luật đều có một nhiệm vụ riêng của nó, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội, còn những thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án đối với người phạm tội không chỉ là để làm sao áp dụng hình phạt hay biện pháp tư pháp để trừng trị họ, cải tạo, giáo ducj họ mà còn có ý nghĩa khác là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho những người này một cách tốt nhất trong quá trình giải quyết vụ án cho dù họ đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, thời điểm xác định tuổi chưa thành niên ở hai ngành luật này khác nhau là hoàn toàn hợp lý, không hề mâu thuẫn nhau và vẫn đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích của người chưa thành niên phạm tội.2 Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên.