Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần (CTCP) là mô hình doanh nghiệp đối vốn đặc trưng, sở hữu khả năng huy động và luân chuyển nguồn vốn linh hoạt trong xã hội. Việc thu hút vốn đầu tư vào công ty cổ phần phụ thuộc trực tiếp vào mức độ minh bạch của môi trường kinh doanh và mức độ an toàn pháp lý dành cho quyền lợi của các nhà đầu tư (cổ đông). Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh hàng năm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Các nguyên tắc quản trị công ty của G20/OECD (G20/OECD Principles of Corporate Governance), bảo vệ nhà đầu tư và đối xử công bằng giữa các cổ đông (bao gồm cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài) là tiêu chí trọng yếu để đánh giá chất lượng quản trị và môi trường đầu tư của một quốc gia.
Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông vẫn còn nhiều điểm bất cập. Đặc thù tách biệt giữa quyền sở hữu tài sản và chức năng quản lý, điều hành trong công ty cổ phần thường làm phát sinh xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông, hoặc tình trạng cổ đông lớn lạm dụng tỷ lệ biểu quyết để chèn ép cổ đông nhỏ. Bên cạnh đó, nhiều cổ đông chưa nắm rõ quyền năng pháp lý của mình, hoặc gặp trở ngại lớn về chi phí và thủ tục khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và tổ chức thi hành án.
Trước bối cảnh Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019 đi vào thực thi với nhiều quy định sửa đổi, việc nghiên cứu có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật là yêu cầu cấp thiết. Đề tài "Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam" được tác giả Đào Thị Linh Chi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Hà Huy Phong tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023) nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích hệ thống lý luận và thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần, đánh giá thực tiễn thực thi qua các tranh chấp điển hình, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của cổ đông và khái quát nội dung quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần.
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi cổ đông để chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, bất cập.
- Phân tích thực tiễn thực thi bảo vệ quyền lợi cổ đông trên cơ sở các vụ việc tranh chấp và số liệu khảo sát thực tế.
- Đưa ra các định hướng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi nhằm bảo vệ quyền lợi cổ đông.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông và hoạt động thực thi bảo vệ quyền lợi cổ đông trên thực tế tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp lý đang có hiệu lực, trọng tâm là Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019, có sự đối chiếu, so sánh với Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và pháp luật doanh nghiệp. Về mặt phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Áp dụng để mổ xẻ nội dung các điều luật điều chỉnh quyền tài sản, quyền quản trị và quyền tố tụng của cổ đông trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Phá sản năm 2014 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu pháp lý: Sử dụng để làm rõ những điểm cải cách, tiến bộ cũng như những mâu thuẫn, khoảng trống pháp luật giữa Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014, đồng thời đối chiếu với các nguyên tắc quản trị công ty của G20/OECD.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study): Phân tích các bản án, quyết định giải quyết việc dân sự/kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân các cấp, quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), và các thông báo nội bộ của các doanh nghiệp niêm yết.
Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; các luận văn, công trình nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế; các báo cáo thực tế như Báo cáo Khảo sát về hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán năm 2023 của Vietstock; các bản án thực tế (Bản án số 12/2019/KDTM-ST, Bản án số 04/2019/KDTM-ST của TAND TP. Đà Nẵng; Bản án số 39/2023/KDTM-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội; Quyết định số 85/2023/QĐ-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; Quyết định sơ thẩm số 01/2023/QĐST-KDTM của TAND TP. Lai Châu; Quyết định xử phạt số 1080/QĐ-XPHC của UBCKNN).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cổ đông và quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về địa vị pháp lý của cổ đông và cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông:
- Khái niệm và đặc điểm pháp lý của cổ đông: Cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần (Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020) và chỉ được xác lập tư cách đầy đủ khi thông tin được ghi nhận vào Sổ đăng ký cổ đông (Khoản 4 Điều 124). Các đặc điểm pháp lý cơ bản gồm: số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không bị hạn chế số lượng tối đa (Điểm b Khoản 1 Điều 111); chịu trách nhiệm hữu hạn về các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp; và có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần như một loại hàng hóa trên thị trường.
- Phân loại cổ đông: Căn cứ theo loại cổ phần nắm giữ, gồm cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi (ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại, ưu đãi khác). Căn cứ theo tư cách pháp lý và tỷ lệ sở hữu, gồm cổ đông sáng lập (Khoản 4 Điều 4), cổ đông trong nước, cổ đông nước ngoài, cổ đông lớn và cổ đông thiểu số.
- Cấu trúc quyền lợi của cổ đông: Quyền lợi cổ đông là tổng thể các quyền và lợi ích hợp pháp mà cổ đông có được từ khi thực hiện góp vốn vào công ty cổ phần. Nội dung quyền lợi được phân chia thành ba nhóm chính:
- Nhóm quyền tài sản: Quyền được hưởng cổ tức; quyền tự do chuyển nhượng cổ phần; quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhận lại một phần tài sản còn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản.
- Nhóm quyền quản trị công ty: Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ); quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS); quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ; quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ; quyền yêu cầu đình chỉ thực hiện hoặc hủy bỏ nghị quyết, quyết định của HĐQT.
- Nhóm quyền khác: Quyền tự do tiếp cận thông tin hoạt động và báo cáo tài chính của doanh nghiệp; quyền khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với người quản lý vi phạm nghĩa vụ.
- Phương thức bảo vệ quyền lợi cổ đông: Bao gồm phương thức tự bảo vệ của cổ đông (chủ động nắm bắt pháp luật, điều lệ và tham gia ĐHĐCĐ); bảo vệ thông qua các thiết chế nội bộ (ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát); và bảo vệ thông qua các thiết chế bên ngoài (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Kiểm toán độc lập, Tòa án và Trọng tài thương mại).
| Nhóm quyền lợi |
Các quyền năng cụ thể của cổ đông |
Cơ chế/Phương thức bảo vệ tương ứng |
| Quyền tài sản |
Hưởng cổ tức; Mua/bán/chuyển nhượng cổ phần; Ưu tiên mua cổ phần mới; Yêu cầu công ty mua lại cổ phần; Phân chia tài sản khi thanh lý/phá sản. |
Quy định pháp luật về nghĩa vụ thanh toán; Điều lệ công ty; Khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường/thanh toán. |
| Quyền quản trị |
Dự họp và biểu quyết ĐHĐCĐ; Triệu tập họp ĐHĐCĐ; Đề cử người vào HĐQT/BKS; Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ; Đình chỉ/hủy bỏ nghị quyết HĐQT. |
Thiết chế ĐHĐCĐ, BKS; Phương thức bầu dồn phiếu; Khiếu nại/khởi kiện hủy nghị quyết qua Tòa án, Trọng tài. |
| Quyền tiếp cận thông tin & Tố tụng |
Xem xét, trích lục sổ biên bản, NQ HĐQT, BCTC, hợp đồng giao dịch; Khởi kiện người quản lý nhân danh công ty hoặc cá nhân. |
Nghĩa vụ công bố thông tin (UBCKNN giám sát); Kiểm toán độc lập; Tố tụng dân sự tại Tòa án theo Điều 166 LDN 2020. |
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và đối chiếu với các vụ việc phát sinh trong thực tế:
1. Thực trạng bảo vệ quyền tài sản của cổ đông
- Quyền hưởng cổ tức: Khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp ĐHĐCĐ thường niên. Hình thức chi trả đa dạng bằng tiền mặt, cổ phần hoặc tài sản khác (ví dụ CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình năm 2021 trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 3% và bằng cổ phiếu tỷ lệ 100:7). Tuy nhiên, pháp luật thiếu chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi cố tình chây ì, trì hoãn chi trả cổ tức. Thực tế nhiều doanh nghiệp liên tục hoãn trả cổ tức nhiều năm với lý do chưa thu hồi được công nợ hoặc chưa cân đối được dòng tiền: CTCP Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu Công nghiệp Sông Đà (Sudico) hoãn trả cổ tức năm 2016 lần thứ 9 và năm 2017 lần thứ 5 sang ngày 31/12/2024; CTCP Sông Đà 4 hoãn trả cổ tức năm 2016 tỷ lệ 15% sang ngày 28/6/2024 (thay vì 26/2/2018); CTCP Lilama 45.4 hoãn trả cổ tức đợt 2012–2013 lần thứ 8 sang ngày 29/12/2023.
- Quyền ưu tiên mua cổ phần mới: Điều 124 và Điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bảo đảm quyền ưu tiên mua theo tỷ lệ sở hữu để chống loãng giá và tránh mất quyền kiểm soát. Dù vậy, luật chưa làm rõ trường hợp cổ đông chuyển quyền ưu tiên mua cho "người khác" thì người đó có bắt buộc phải là cổ đông hiện hữu hay không. Bất cập này dẫn đến tranh chấp kéo dài như tại Bản án số 12/2019/KDTM-ST ngày 06/11/2019 của TAND TP. Đà Nẵng (vụ Công ty Cổ phần S từ chối cấp cổ phiếu cho ông Nguyễn Quốc A và bà Trương Thị C sau khi nhận chuyển nhượng quyền ưu tiên mua 1.226 cổ phần từ bà Phan Thụy M) và Bản án số 04/2019/KDTM-ST ngày 06/6/2019. Ngoài ra, đối với công ty đại chúng, Thông tư số 116/2020/TT-BTC cho phép Điều lệ quy định ĐHĐCĐ trao quyền cho HĐQT phân phối số cổ phần cổ đông không mua hết, tạo cơ hội cho nhóm cổ đông lớn thâu tóm.
- Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Điều 132 quy định công ty phải mua lại cổ phần của cổ đông biểu quyết phản đối việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ trong Điều lệ trong thời hạn 90 ngày theo giá thị trường hoặc giá thỏa thuận. Tác giả chỉ ra thời hạn 90 ngày là quá dài, đồng thời luật thiếu quy định về chủ thể chịu chi phí khi phải thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp.
- Quyền tự do chuyển nhượng và quyền khi giải thể, phá sản: Quyền chuyển nhượng bị hạn chế đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết (Khoản 3 Điều 116) và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm (Khoản 3 Điều 120). Về xử lý tài sản khi phá sản, thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 54 Luật Phá sản năm 2014 xếp cổ đông ở vị trí cuối cùng, dẫn đến rủi ro mất trắng phần vốn góp. Điều kiện nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của cổ đông cũng bị giới hạn khắt khe (phải sở hữu từ 20% cổ phần phổ thông liên tục ít nhất 06 tháng theo Khoản 5 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014).
2. Thực trạng bảo vệ quyền quản lý, quản trị công ty của cổ đông
- Quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ: Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020 giảm tỷ lệ sở hữu yêu cầu từ 10% xuống 05% và bãi bỏ điều kiện nắm giữ liên tục 06 tháng so với Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, việc luật không định lượng tiêu chí "HĐQT vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý" khiến quyền này dễ mang tính hình thức.
- Quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ: Bãi bỏ quy định bắt buộc áp dụng mẫu giấy ủy quyền do công ty phát hành (Khoản 2 Điều 144) nhằm ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp cố tình gây khó khăn cho cổ đông. Dù vậy, thực tế vẫn xuất hiện các hành vi vi phạm: Công ty CP Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam (VVEC) trong thông báo mời họp ĐHĐCĐ thường niên năm 2023 đưa ra điều kiện trái luật buộc cổ đông sở hữu dưới 3.000 cổ phần phải gom nhóm mới được dự họp trực tiếp. Ngoài ra, quy định tỷ lệ tiến hành họp ĐHĐCĐ lần hai chỉ cần từ 33% tổng số phiếu biểu quyết (Khoản 2 Điều 145) làm tăng nguy cơ cổ đông lớn chi phối và thâu tóm.
- Quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ: Điều 151 quy định thời hạn khởi kiện là 90 ngày đối với cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông khi có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục hoặc nội dung. Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều 152, nghị quyết bị yêu cầu hủy vẫn có hiệu lực thi hành cho đến khi có phán quyết có hiệu lực của Tòa án/Trọng tài (trừ trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời), tạo ra hậu quả pháp lý phức tạp khi nghị quyết đã được thực thi trên thực tế (điển hình như vụ khiếu kiện kéo dài 8 năm của SBIC yêu cầu hủy nghị quyết ĐHĐCĐ tại CTCP Sứ kỹ thuật Hoàng Liên Sơn).
- Quyền yêu cầu đình chỉ/hủy bỏ nghị quyết HĐQT: Khoản 4 Điều 153 cho phép cổ đông khởi kiện không phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu tối thiểu. Điểm bất cập là luật không giới hạn thời hiệu khởi kiện nghị quyết HĐQT, gây rủi ro đứt gãy hoạt động kinh doanh liên tục của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử bộc lộ sự thiếu thống nhất về thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài thương mại (ví dụ Quyết định số 85/2023/QĐ-PT của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh đình chỉ giải quyết yêu cầu hủy biên bản họp HĐQT của ông Trần Văn Sương H theo Điều 30, 31 BLTTDS; vụ tranh chấp HĐQT tại CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình đầu năm 2023 tại VIAC).
- Quyền đề cử thành viên HĐQT, BKS và phương thức bầu dồn phiếu: Khoản 5 Điều 115 quy định tỷ lệ đề cử là 10% (hoặc nhỏ hơn theo Điều lệ) và bãi bỏ điều kiện nắm giữ 06 tháng. Thực tế nhiều doanh nghiệp cố tình đặt ra rào cản trái luật: CTCP Thủy điện SB-1G tại Thông báo số 327/CV-TAG ngày 19/10/2022 đã tự ý bổ sung điều kiện ứng viên HĐQT nhiệm kỳ 2022–2027 phải sở hữu từ 10% cổ phần liên tục 06 tháng, xâm phạm quyền đề cử 02 ứng viên của cổ đông Phạm Văn N (sở hữu 14% vốn điều lệ), dẫn đến việc TAND TP. Lai Châu phải ban hành Quyết định số 01/2023/QĐST-KDTM ngày 11/05/2023 hủy bỏ nghị quyết đại hội. Mặt khác, Khoản 3 Điều 148 cho phép Điều lệ loại trừ phương thức bầu dồn phiếu, làm suy yếu công cụ bảo vệ cổ đông thiểu số; trong khi thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT tại Điều 160 lại áp dụng theo biểu quyết thông thường, tạo lợi thế tuyệt đối cho cổ đông lớn.
3. Thực trạng bảo vệ quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện
- Quyền tiếp cận thông tin: Luật Doanh nghiệp năm 2020 mở rộng cho cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 05% được trích lục biên bản, nghị quyết HĐQT, hợp đồng giao dịch; cổ đông sở hữu liên tục 01 năm được quyền kiểm tra cùng luật sư, kiểm toán viên (Khoản 4 Điều 175). Về công bố thông tin, Điều 120 Luật Chứng khoán năm 2019 và Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định chế độ báo cáo định kỳ, bất thường và theo yêu cầu. Báo cáo năm 2023 của Vietstock chỉ ra tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết đạt chuẩn công bố thông tin chỉ đạt 50% (364/731 doanh nghiệp, giảm so với 52% của năm 2022), có 161 doanh nghiệp bị nhắc nhở hoặc xử lý vi phạm; ngày 21/11/2023 UBCKNN đã xử phạt 260 triệu đồng đối với CTCP Tập đoàn Tiến Bộ (Quyết định số 1080/QĐ-XPHC). Về mặt vướng mắc quy định, luật loại trừ quyền tiếp cận các tài liệu chứa "bí mật thương mại, bí mật kinh doanh" nhưng không định nghĩa rõ ranh giới, dẫn đến việc doanh nghiệp lạm dụng để từ chối cổ đông: trường hợp ông Lê Anh T sở hữu 6,01% tại CTCP Bia HN-TH gửi 6 phiếu yêu cầu và 1 đơn đề nghị nhưng bị BKS từ chối tại Công văn số 186/BKS-TNB ngày 23/11/2021 lấy lý do bí mật sản xuất kinh doanh (Bản án số 39/2023/KDTM-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội); trường hợp ông Nguyễn Ngọc Long sở hữu 16,7% tại CTCP Công trình vận tải Hải Phòng bị từ chối cung cấp tài liệu tài chính nhiều năm liền.
- Quyền khởi kiện người quản lý: Khoản 1 Điều 166 cho phép cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông khởi kiện trách nhiệm cá nhân hoặc nhân danh công ty đối với thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc khi vi phạm nghĩa vụ tại Điều 165. Tuy nhiên, điều luật tồn tại ba bất cập lớn: (i) loại trừ quyền khởi kiện của các loại cổ đông ưu đãi; (ii) bỏ sót đối tượng bị kiện là "người quản lý khác theo quy định tại Điều lệ" (mâu thuẫn với Khoản 24 Điều 4 và Khoản 2 Điều 165); (iii) quy định khởi kiện yêu cầu bồi hoàn cho "người khác" chưa tương thích với quy định về tư cách đương sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần
Chương 3 xây dựng các định hướng và nhóm giải pháp lập pháp nhằm nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền lợi cổ đông:
- Định hướng hoàn thiện: Bảo đảm sự hài hòa, cân bằng lợi ích giữa cổ đông thiểu số, cổ đông lớn và bộ máy điều hành; tăng cường tính công khai, minh bạch theo các tiêu chuẩn quản trị quốc tế (OECD); hoàn thiện đồng bộ giữa pháp luật doanh nghiệp với pháp luật chứng khoán, phá sản và tố tụng dân sự.
- Các kiến nghị cụ thể:
- Hoàn thiện quy định về quyền cổ đông: Bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trì hoãn, không thực hiện nghĩa vụ chi trả cổ tức đúng thời hạn 06 tháng; quy định rõ ràng phạm vi "người khác" trong giao dịch chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ phần mới; quy định cụ thể ranh giới tài liệu thuộc "bí mật kinh doanh" để tránh việc người quản lý lạm quyền từ chối cung cấp thông tin cho cổ đông; mở rộng quyền khởi kiện người quản lý cho cổ đông ưu đãi.
- Hoàn thiện quy định về quản trị nội bộ: Bắt buộc áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu đối với tất cả các công ty đại chúng (không cho phép Điều lệ loại trừ); nghiên cứu cơ chế biểu quyết dồn phiếu hoặc tỷ lệ biểu quyết đặc thù khi ĐHĐCĐ tiến hành miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT để bảo vệ người đại diện của nhóm cổ đông thiểu số; bổ sung thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy nghị quyết HĐQT; hướng dẫn tiêu chí xác định hành vi "vi phạm nghiêm trọng" trong quy trình triệu tập họp và ra quyết định của HĐQT, ĐHĐCĐ.
- Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật: Hướng dẫn thống nhất thẩm quyền thụ lý giải quyết tranh chấp nội bộ công ty (đặc biệt là yêu cầu hủy nghị quyết HĐQT) giữa Tòa án và Trọng tài thương mại; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt nghiêm các vi phạm về công bố thông tin của UBCKNN; rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đối chiếu và lượng hóa chi tiết các bước chuyển dịch về điều kiện thực thi quyền năng của cổ đông giữa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020:
| Quyền năng của cổ đông |
Quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 |
Quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 |
Đánh giá tác động pháp lý |
| Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ |
Sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông, duy trì liên tục ít nhất 06 tháng. |
Sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông; bãi bỏ điều kiện thời gian sở hữu. |
Giảm một nửa điều kiện tỷ lệ sở hữu, giúp cổ đông thiểu số kích hoạt quyền giám sát ngay khi gia nhập công ty. |
| Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ |
Sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông, duy trì liên tục ít nhất 06 tháng. |
Sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông; bãi bỏ điều kiện thời gian sở hữu. |
Mở rộng quyền tiếp cận cơ quan tài phán cho cổ đông thiểu số khi quyền lợi bị vi phạm. |
| Đề cử người vào HĐQT và BKS |
Sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông, duy trì liên tục ít nhất 06 tháng. |
Sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông; bãi bỏ điều kiện thời gian sở hữu. |
Loại bỏ rào cản thời gian nắm giữ, hạn chế tình trạng cổ đông bị tước quyền đề cử trong kỳ họp đại hội gần nhất. |
| Tiếp cận BCTC, NQ HĐQT, hợp đồng |
Sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông, duy trì liên tục ít nhất 06 tháng. |
Sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông; bãi bỏ điều kiện thời gian sở hữu; bổ sung quyền xem hợp đồng. |
Tăng cường công cụ kiểm soát các giao dịch có nguy cơ tư lợi và giao dịch với người có liên quan. |
| Khởi kiện người quản lý công ty |
Sở hữu ít nhất 01% cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng. |
Sở hữu ít nhất 01% cổ phần phổ thông; bãi bỏ điều kiện thời gian sở hữu. |
Tạo điều kiện cho cổ đông giám sát và quy trách nhiệm cá nhân đối với người quản lý công ty ngay lập tức. |
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về bảo vệ cổ đông dưới góc độ pháp lý kinh tế; chỉ ra 05 điểm nghẽn lớn trong hệ thống văn bản hiện hành (chế tài cổ tức, khái niệm chuyển nhượng quyền ưu tiên mua, khái niệm bí mật kinh doanh, xung đột thẩm quyền hủy nghị quyết HĐQT, và thiếu sót đối tượng bị kiện tại Điều 166). Các giải pháp đề xuất có tính tương thích cao với thực tiễn xét xử và thông lệ quản trị công ty của G20/OECD.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi hệ thống pháp luật thực định Việt Nam (trọng tâm là Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019) cùng một số vụ việc tranh chấp điển hình đã có phán quyết công khai của Tòa án nhân dân và UBCKNN. Đề tài chưa mở rộng nghiên cứu so sánh sâu với pháp luật công ty của các hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới (như Common Law hay Civil Law) về cơ chế kiện phái sinh (derivative action).
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng về mức độ tuân thủ điều lệ và tỷ lệ tranh chấp cổ đông tại các doanh nghiệp chưa đại chúng; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về tác động của các phương thức bỏ phiếu điện tử, họp trực tuyến và quản trị dữ liệu số đối với việc thực thi quyền của cổ đông trong kỷ nguyên số.
Giá trị tham khảo
Nội dung khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Quản trị kinh doanh và Tài chính: Cung cấp cơ sở lý luận chi tiết, hệ thống hóa toàn diện các điểm sửa đổi của Luật Doanh nghiệp năm 2020 so với Luật Doanh nghiệp năm 2014.
- Luật sư, chuyên viên pháp lý doanh nghiệp và thẩm phán: Tham khảo các phân tích chuyên sâu về vướng mắc tố tụng trong tranh chấp kinh doanh thương mại, thủ tục hủy nghị quyết ĐHĐCĐ/HĐQT và các án lệ thực tế.
- Nhà đầu tư và thành viên ban quản trị CTCP: Nhận diện các rủi ro pháp lý tiềm ẩn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin, quy trình đề cử nhân sự và quy tắc biểu quyết trong nội bộ doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã nới lỏng điều kiện về tỷ lệ sở hữu và thời gian nắm giữ cổ phần như thế nào đối với quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ và quyền tiếp cận thông tin?
Theo Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông để thực hiện quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ và quyền xem xét, trích lục biên bản, nghị quyết HĐQT, báo cáo tài chính, hợp đồng giao dịch đã giảm từ 10% xuống 05% (hoặc tỷ lệ nhỏ hơn do Điều lệ quy định), đồng thời bãi bỏ hoàn toàn điều kiện phải nắm giữ liên tục ít nhất 06 tháng quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014.
2. Những bất cập lớn nhất của quy định về quyền khởi kiện người quản lý theo Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2020 là gì?
Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2020 bộc lộ ba điểm bất cập:
- Chỉ trao quyền khởi kiện cho cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông (từ 01%), loại trừ quyền này của các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi.
- Giới hạn đối tượng bị khởi kiện chỉ gồm thành viên HĐQT, Giám đốc, Tổng giám đốc, bỏ sót nhóm "người quản lý khác theo quy định tại Điều lệ" (mâu thuẫn với Khoản 24 Điều 4 và Khoản 2 Điều 165).
- Quy định khởi kiện yêu cầu bồi thường cho "người khác" chưa được hướng dẫn cụ thể về tư cách chủ thể và chưa tương thích với pháp luật tố tụng dân sự.
3. Doanh nghiệp thường viện dẫn lý do gì để từ chối cung cấp tài liệu cho cổ đông thiểu số và thực tế có vụ việc nào điển hình?
Doanh nghiệp thường viện dẫn quy định loại trừ tại Khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020 để cho rằng tài liệu yêu cầu thuộc "bí mật thương mại, bí mật kinh doanh, công nghệ". Điển hình là vụ việc của ông Lê Anh T (sở hữu 6,01% cổ phần tại CTCP Bia HN-TH), dù đã gửi 6 phiếu yêu cầu và 1 đơn đề nghị nhưng bị Ban Kiểm soát từ chối cung cấp tài liệu tại Công văn số 186/BKS-TNB ngày 23/11/2021 với lý do tài liệu phục vụ sản xuất kinh doanh là bí mật doanh nghiệp, buộc cổ đông phải khởi kiện ra Tòa án (Bản án số 39/2023/KDTM-PT của TAND cấp cao tại Hà Nội).
4. Thực trạng chậm chi trả cổ tức diễn ra như thế nào trên thực tế và nguyên nhân pháp lý do đâu?
Mặc dù Khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định thời hạn thanh toán cổ tức tối đa là 06 tháng kể từ ngày bế mạc ĐHĐCĐ thường niên, nhiều doanh nghiệp vẫn liên tục hoãn trả nhiều năm (như Sudico dời thời gian trả cổ tức năm 2016 lần thứ 9 và năm 2017 lần thứ 5 sang năm 2024; Sông Đà 4 hoãn cổ tức năm 2016 tỷ lệ 15% sang năm 2024; Lilama 45.4 hoãn cổ tức 2012-2013 sang năm 2023). Nguyên nhân chính là do pháp luật hiện hành chưa có quy định về chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cố tình kéo dài thời hạn chi trả cổ tức, trong khi việc khởi kiện ra Tòa án của cổ đông gặp khó khăn về chi phí và thủ tục thi hành án.
5. Hạn chế của quy định về phương thức bầu dồn phiếu trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 đối với việc bảo vệ cổ đông thiểu số là gì?
Khoản 3 Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định phương thức bầu dồn phiếu khi bầu thành viên HĐQT và BKS áp dụng "trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác". Điều này cho phép doanh nghiệp loại trừ bầu dồn phiếu ngay trong Điều lệ, tước đi công cụ quan trọng giúp cổ đông thiểu số tập hợp phiếu bầu để đưa người đại diện vào bộ máy quản lý. Ngoài ra, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT tại Điều 160 lại chỉ áp dụng theo phương thức biểu quyết thông thường, giúp nhóm cổ đông lớn dễ dàng bãi nhiệm đại diện của cổ đông thiểu số sau khi trúng cử.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Linh Chi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông trong công ty cổ phần tại Việt Nam theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Chứng khoán năm 2019. Công trình đã phân tích cụ thể những tiến bộ lập pháp cùng các khoảng trống, mâu thuẫn quy phạm thông qua hàng loạt vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại và số liệu thực tế về chi trả cổ tức, quyền ưu tiên mua, quyền tiếp cận thông tin và cơ chế khởi kiện người quản lý. Trên cơ sở đó, khóa luận xác lập hệ thống kiến nghị hoàn thiện thể chế đồng bộ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và thúc đẩy môi trường kinh doanh minh bạch, bền vững.