Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Việt Nam đã phê duyệt 34 dự án quy hoạch phát triển ngành, 56 dự án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh và 12 dự án quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm cùng kinh tế biển. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã tạo áp lực nặng nề lên hệ sinh thái tự nhiên, khiến chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường ước tính chiếm từ 1,5% đến 3% GDP hàng năm. Thực trạng suy thoái đất, cạn kiệt tài nguyên nước và ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp tập trung đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động quy hoạch.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và yêu cầu bảo vệ môi trường bền vững trong các đồ án quy hoạch tổng thể. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật môi trường tại Việt Nam từ khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, qua đó chỉ ra các khoảng trống pháp lý và đề xuất định hướng hoàn thiện khung thể chế đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh pháp lý của công tác bảo vệ môi trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội trên quy mô toàn quốc, tập trung vào hai công cụ quản lý then chốt: Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu pháp lý giá trị nhằm nâng tỷ lệ tích hợp bảo vệ môi trường vào quy hoạch đạt 100%, góp phần ngăn chặn các thảm họa môi trường và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết hợp của hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable Development) và Lý thuyết điều chỉnh pháp luật môi trường. Theo Báo cáo Brundtland năm 1987 của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) và Tuyên bố Rio năm 1992 với sự tham gia của 179 quốc gia, phát triển bền vững đòi hỏi sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Mô hình nghiên cứu vận dụng 9 nguyên tắc cốt lõi về xã hội bền vững được công bố bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) năm 1991.

Khung khái niệm pháp lý được làm rõ qua 4 chế định trọng tâm:

  1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
  2. Quy hoạch bảo vệ môi trường gắn liền với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội.
  3. Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch từ 5 năm trở lên.
  4. Nguyên tắc phòng ngừa ô nhiễm tại nguồn và bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước theo Điều 12 Hiến pháp năm 1992.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện, bao gồm 102 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, bảo vệ môi trường và hơn 90 báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, báo cáo thẩm định quy hoạch ngành từ năm 1993 đến năm 2010. Dữ liệu thực tiễn được đối chiếu từ 56 đồ án quy hoạch cấp tỉnh và 34 quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các nhóm quy hoạch thuộc các ngành có nguy cơ phát thải lớn như thủy điện, khai khoáng than, hóa chất, vật liệu xây dựng và các lưu vực sông trọng điểm.

Phương pháp phân tích pháp lý (legal doctrinal analysis), phương pháp so sánh luật học, phương pháp lịch sử và phương pháp tổng hợp hệ thống được lựa chọn làm công cụ nghiên cứu chính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách các điểm xung đột giữa Luật Bảo vệ môi trường với các luật chuyên ngành, đồng thời theo dõi sát tiến trình phát triển của chế định ĐTM tại Việt Nam kể từ Chương trình khoa học cấp nhà nước 52D giai đoạn 1984 - 1990 đến Nghị định 29/2011/NĐ-CP.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự phân tách đáng kể giữa quy hoạch phát triển kinh tế và quy hoạch bảo vệ môi trường. Mặc dù đã có 34 quy hoạch ngành và 56 quy hoạch tỉnh được ban hành, nhưng tỷ lệ các quy hoạch thực hiện Đánh giá môi trường chiến lược độc lập, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn khoa học chỉ đạt khoảng 30% đến 40% trong giai đoạn trước năm 2011. Phần lớn các nội dung môi trường chỉ dừng lại ở mức lồng ghép sơ lược, thiếu các kịch bản dự báo tác động dài hạn.

Thứ hai, công tác thẩm định và giám sát thực hiện Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) còn nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Trong thực tế, hơn 70% các dự án kinh tế sau khi nhận phê duyệt ĐTM đã không thực hiện đầy đủ các cam kết bảo vệ môi trường trong giai đoạn xây dựng và vận hành. Sự thiếu hụt cơ chế hậu kiểm khiến việc xử lý các vi phạm xả thải không qua xử lý tại các lưu vực sông lớn trở nên bị động.

Thứ ba, quy định pháp lý về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quy hoạch môi trường mang tính hình thức. Mặc dù Điều 24 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định về cam kết bảo vệ môi trường và cơ chế tham vấn, song chưa có quy định bắt buộc về việc công khai 100% dữ liệu phát thải cho các tổ chức xã hội giám sát, dẫn đến quyền tiếp cận thông tin môi trường bị hạn chế.

Thứ tư, chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi gây suy thoái môi trường còn quá thấp, mức phạt tối đa trong giai đoạn trước đây thường chỉ chiếm dưới 5% tổng chi phí đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, làm triệt tiêu động lực tự giác tuân thủ của các doanh nghiệp sản xuất.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu quy trình thẩm định ĐMC/ĐTM qua các thời kỳ và biểu đồ phân bổ trách nhiệm giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nguyên nhân chính của những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ tư duy ưu tiên tối đa hóa GDP trong thời gian dài, xem nhẹ công tác phòng ngừa từ sớm.

So sánh với các thông lệ quốc tế tại các hội nghị thượng đỉnh Rio 1992 và Johannesburg 2002, hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ 2005 - 2010 còn thiếu các công cụ kinh tế mạnh mẽ như thuế bảo vệ môi trường, hạn ngạch phát thải và bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Điểm sáng nổi bật là việc Chính phủ ban hành Nghị định 140/2006/NĐ-CP và Nghị định 29/2011/NĐ-CP đã chuẩn hóa thời hạn thẩm định ĐMC tối đa 45 ngày làm việc đối với cấp Bộ và 30 ngày làm việc đối với cấp tỉnh, tạo bước chuyển biến căn bản trong quản lý nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về Đánh giá môi trường chiến lược: Bổ sung các quy định hướng dẫn chi tiết về phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên trong ĐMC, đưa tỷ lệ thẩm định ĐMC độc lập đạt 100% đối với toàn bộ các quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm trước năm 2015. Chủ thể thực hiện là Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

  2. Thiết lập cơ chế công cụ kinh tế trong kiểm soát ô nhiễm: Áp dụng triệt để nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" thông qua việc ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường, nâng mức xử phạt hành chính và yêu cầu bồi thường thiệt hại gấp 2 đến 3 lần chi phí đầu tư công nghệ xử lý môi trường trong vòng 2 năm tới. Chủ thể thực hiện là Bộ Tài chính và Chính phủ.

  3. Chuẩn hóa quy trình tham vấn và công khai thông tin môi trường: Ban hành quy chế bắt buộc lấy ý kiến cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp trong quá trình lập ĐMC và ĐTM, xây dựng cổng dữ liệu mở quan trắc môi trường kết nối trực tiếp tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức tư vấn môi trường.

  4. Nâng cao năng lực bộ máy thanh tra, kiểm tra môi trường: Phân định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước giữa cơ quan trung ương và địa phương, tăng cường đầu tư trang thiết bị đo kiểm kỹ thuật cao cho 100% thanh tra viên chuyên ngành môi trường nhằm kiểm soát chặt chẽ giai đoạn hậu thẩm định ĐTM.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường tại các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về ĐMC và ĐTM trong quy hoạch kinh tế tổng thể.

  2. Doanh nghiệp và chủ đầu tư dự án công nghiệp: Các tổng công ty, ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng hạ tầng. Tài liệu hỗ trợ nhận diện các rủi ro pháp lý, chuẩn hóa quy trình lập hồ sơ cam kết bảo vệ môi trường, giúp tiết kiệm từ 10% đến 20% chi phí xử lý sự cố môi trường phát sinh.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Quản trị Môi trường tại hơn 50 cơ sở đào tạo đại học trên cả nước. Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu về mô hình điều chỉnh pháp luật môi trường tại Việt Nam.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới hoạt động xã hội vì môi trường: Cung cấp cơ sở lý luận về quyền con người đối với môi trường sống, giúp các tổ chức xã hội nâng cao năng lực phản biện chính sách và giám sát cộng đồng tại các điểm nóng ô nhiễm.

Câu hỏi thường gặp

Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) khác gì so với Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)?

ĐMC là quá trình phân tích, dự báo các tác động môi trường của các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển có thời hạn từ 5 năm trở lên ở tầm vĩ mô. Trong khi đó, ĐTM là công cụ đánh giá tác động của từng dự án đầu tư cụ thể trước khi được cấp phép xây dựng theo Điều 18 đến Điều 23 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.

Tại sao bảo vệ môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu lập quy hoạch kinh tế - xã hội?

Theo Điều 4 Nghị định 140/2006/NĐ-CP, việc lồng ghép bảo vệ môi trường ngay từ khi xây dựng ý tưởng quy hoạch giúp ngăn ngừa rủi ro ô nhiễm tại nguồn, tránh việc phải khắc phục sự cố môi trường tốn kém, qua đó duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Thời hạn thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được pháp luật quy định như thế nào?

Theo quy định tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP, thời hạn thẩm định báo cáo ĐMC chi tiết tối đa là 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với cấp Bộ quản lý ngành, và tối đa 30 ngày làm việc đối với các báo cáo thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác quy hoạch bảo vệ môi trường là gì?

Cộng đồng dân cư vừa là chủ thể chịu tác động trực tiếp vừa là lực lượng giám sát xã hội quan trọng. Pháp luật bảo vệ môi trường quy định cộng đồng có quyền được cung cấp thông tin, tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình lập ĐMC/ĐTM và phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm xả thải trái phép.

Công cụ kinh tế nào đóng vai trò đòn bẩy hiệu quả nhất trong bảo vệ môi trường hiện nay?

Thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường chiếm từ 10% đến 15% tổng kinh phí dự phòng là những đòn bẩy kinh tế hiệu quả nhất, tác động trực tiếp vào lợi ích tài chính nhằm buộc chủ đầu tư chuyển đổi sang công nghệ sản xuất sạch hơn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội tại Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010.
  • Chỉ ra 4 bất cập cốt lõi trong quy trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và Đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
  • Cung cấp khung phân tích pháp lý kết hợp các công cụ kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên môi trường quốc gia.
  • Đề xuất lộ trình hoàn thiện thể chế đồng bộ đến năm 2020, hướng tới mục tiêu 100% các quy hoạch phát triển vùng và ngành đều được kiểm soát tác động sinh thái nghiêm ngặt.
  • Kêu gọi sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động của các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững đất nước.