Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 1. Các công trình khoa học đã công bố đề cập đến lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Vấn đề tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước, từ các góc độ khác nhau quan tâm nghiên cứu, cụ thể: Trong công trình khoa học “Indicators for Sustainable Development: Theory, Method, Applications” (Các chỉ số cho sự phát triển bền vững: Lý thuyết, Phương pháp, Ứng dụng) [134], tác giả Atkinson và các cộng sự đã cho rằng, có 6 hệ thống chỉ tiêu cho phát triển bền vững, được chia thành 3 nhóm: Hệ thống con người; hệ thống hỗ trợ; hệ thống tự nhiên. Trong đó: “Hệ thống con người = phát triển cá nhân + hệ thống xã hội + hệ thống chính phủ”; “Hệ thống hỗ trợ = hệ thống kinh tế + hệ thống cơ sở hạ tầng”; “Hệ thống tự nhiên = môi trường và hệ thống tài nguyên”.
Ba nhóm hệ thống trên đây tương ứng với ba nguồn vốn thường được sử dụng trong phân tích toàn bộ hệ thống, đó là: Vốn con người (Human capital); vốn cấu trúc (Structural capital); vốn tự nhiên (Natural capital). Tác giả O’Connor M trong công trình khoa học “The “Four Spheres” framework for sustainability” [141] đã đề xuất một mô hình tứ giác như là “Bốn trụ cột” cho phát triển bền vững. O’Connor cho rằng “phát triển bền vững được đặc trưng là sự gắn kết phát triển (coevolution) của hệ thống gồm: Kinh tế (Economic organisation), Xã hội (Social organisation) và Hệ tự nhiên/Môi trường (Natural Systems organisation), được thể hiện bằng các mục tiêu chất lượng/hoạt động liên quan đến mỗi một lĩnh vực”. Lĩnh vực thứ tư là hệ thống quy định thông qua lĩnh vực Chính trị (System Regulation via luan an 10 Political organisation), được tác giả định nghĩa là những quy định có vai trò điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội và những mối quan hệ song hành với lĩnh vực môi trường.
Trong công trình khoa học nghiên cứu về “Economic growth and the environment” (Tăng trưởng kinh tế và môi trường) [136], tác giả Gene M.Grossman và Alan B.Krueger chỉ ra rằng, sự suy thoái môi trường không tỷ lệ với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thông qua nghiên cứu bốn chỉ số: Ô nhiễm không khí đô thị, nồng độ ôxy ở các lưu vực sông, ô nhiễm đáy của các lưu vực sông, ô nhiễm lưu vực sông do kim loại nặng gây ra, các tác giả đã rút ra kết luận rằng: Trong giai đoạn đầu của phát triển, ô nhiễm gia tăng một cách nhanh chóng do đặt ưu tiên cao cho việc gia tăng năng suất và người dân quan tâm nhiều đến việc làm, thu nhập hơn là không khí hay nguồn nước sạch. Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến việc sử dụng nhiều hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát thải nhiều hơn các chất ô nhiễm làm suy thoái môi trường trầm trọng. Khi thu nhập tăng lên, người dân có ý thức hơn về giá trị môi trường, luật pháp, chính sách môi trường cũng như các cơ quan thi hành trở nên nghiêm khắc và hiệu quả hơn, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường.
Tác giả Tsumor Ushiyama với công trình khoa học “Environment Pollution Control in Janpan-Development and Characteristics” (Kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản - đặc trưng và phát triển) [140], đã chỉ ra vai trò của chính quyền tự quản địa phương và hoạt động phong trào của người dân địa phương trong việc hình thành, thực hiện Luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản. Pháp luật bảo vệ môi trường áp dụng cho các quận của Tokyo có quy định: Người dân được tham gia vào công tác quản lý hành chính, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình; các nhà lãnh đạo phải có nhiệm vụ điều tra, giám sát nguồn gốc, nguyên nhân, tình trạng ô nhiễm môi trường và các vấn đề khác, phải công khai cho người dân các quận, luan an 11 huyện biết về tình trạng ô nhiễm như đã điều tra. Bên cạnh đó, một hội đồng giám sát ô nhiễm môi trường (có sự tham gia của người dân) được thành lập để điều tra và cân nhắc các biện pháp giám sát nguồn gây ô nhiễm môi trường (được thực hiện bởi nhà quản lý và các cơ quan hành chính). Trong công trình khoa học “Phát triển xã hội bền vững và hài hòa - Những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay” [48], tác giả Lương Đình Hải nhấn mạnh: Phát triển xã hội bền vững và hài hoà là một xu hướng tất yếu, khách quan của thời đại.
Phát triển bền vững không thể dựa trên khuôn mẫu tư duy cũ, các quan niệm và giá trị cũ; nó đòi hỏi phải có tư duy mới, khoa học hơn, nghĩa là cần có một thế giới quan triết học mới. Vấn đề cấp thiết, đặc biệt quan trọng đặt ra hiện nay không chỉ là giữ gìn, bảo vệ mà còn là cải thiện môi trường sinh thái. Nội dung của quan niệm phát triển xã hội bền vững và hài hoà phải bao gồm: “Tăng trưởng kinh tế, hiện đại hoá xã hội gắn liền với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trong mỗi bước phát triển tất yếu phải trở thành nguyên tắc chủ đạo của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế” [48, tr. 33] và “quan niệm về ba yếu tố trụ cột: Kinh tế - xã hội - sinh thái vẫn là quan điểm chủ đạo, tương thích với sự phát triển của tổng thể hệ thống con người - xã hội - sinh thái, đảm bảo sự phát triển của tất cả các yếu tố riêng biệt trong sự hài hoà với các yếu tố khác và với cả hệ thống” [48, tr.
Trong công trình khoa học “Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường” [28], tác giả Bùi Văn Dũng đã dựa trên lập trường chủ nghĩa duy vật để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên, giữa xã hội và giới tự nhiên, giữa con người và môi trường. Trước hết, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển ở trong xã hội; mặt khác, con người là “một bộ phận của giới tự nhiên”, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên, nằm trong lòng của giới tự nhiên, gắn với giới tự nhiên bằng trăm nghìn mối dây liên hệ. Yêu cầu bảo vệ môi trường, luan an 12 bảo đảm mối quan hệ cân bằng giữa tự nhiên với xã hội là mục tiêu của mọi quá trình phát triển kinh tế bền vững. Theo tác giả, phải có quan điểm hệ thống, quan điểm toàn diện và phát triển trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Tác giả Bùi Văn Dũng trong công trình khoa học “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” [27] đã lý giải rõ hơn cơ sở triết học trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Mối quan hệ này được hình thành gắn liền với quá trình sản xuất vật chất, nó tồn tại và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài người. Giữa tự nhiên và xã hội vừa có sự thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn. Sự thống nhất và mâu thuẫn đó đều thể hiện ở nền sản xuất vật chất của xã hội.
Trong quá trình sản xuất vật chất đã nảy sinh mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường luôn luôn có xu hướng loại trừ nhau nhưng đồng thời lại là tiền đề tồn tại của nhau, chúng không thể tồn tại thiếu nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế là phải dựa vào nguồn tài nguyên và cách sử dụng nguồn tài nguyên đó. Điều kiện để giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền là phải thay đổi thái độ và hành động; giữ tỷ lệ dân số một cách hợp lý, xóa bỏ nghèo nàn và giảm khoảng cách mức sống giữa các nước, các cộng đồng người trên thế giới; mở rộng cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất vật chất, tạo ra tiền đề cho sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; hòa bình và sự hợp tác toàn cầu; xóa bỏ chế độ người áp bức bóc lột người trong xã hội và xây dựng một cơ chế quốc gia.
Tác giả Đỗ Trọng Hưng trong công trình khoa học “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay” [68] đã tập trung nghiên cứu làm rõ hệ thống các khái niệm: Kinh tế, tăng luan an 13 trưởng kinh tế và phát triển kinh tế; môi trường và bảo vệ môi trường. Chỉ ra yêu cầu, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, cụ thể: Bảo vệ môi trường tự nhiên hợp lý là tiền đề để tăng trưởng kinh tế bền vững; tăng trưởng kinh tế hợp lý là cơ sở cho việc bảo vệ môi trường bền vững. Nội dung của việc kết hợp này thể hiện ở việc quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý cho tăng trưởng kinh tế; phát triển công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông - lâm - ngư nghiệp trong mối quan hệ với bảo tồn, phát triển môi trường tự nhiên. Việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường chịu sự quy định của những nhân tố như: Nhân tố kinh tế; chính trị, văn hóa; khoa học và công nghệ; nhận thức của cán bộ, nhân dân, doanh nhân.
Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay.