Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu làm rõ các vấn đề có liên quan đến làng nghề truyền thống nói chung và làng nghề truyền thống cây giống và hoa kiểng nói riêng. Các khái niệm, đặc điểm, vai trò và tổng quan về làng nghề truyền thống… Chƣơng 2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống cây giống và hoa kiểng ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu về các giá trị của làng nghề.
Tập trung vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống cây cây giống và hoa kiểng ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh 14 Bến Tre. Từ đó đưa ra nhận định và đánh giá công tác bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống cây giống và hoa kiểng ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Trong chương này, từ những nhận định đánh giá công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống ở chương 2, chúng tôi đưa ra một vài định hướng phát triển cũng như các giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống cây giống và hoa kiểng ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu Những năm gần đây, các nghề và làng nghề truyền thống là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu sâu hơn. Từ đó đưa ra nhiều nhận định và nhiều ý kiến khác nhau về nội dung này. Để xác định rõ hơn về các lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận và nghiên cứu các khái niệm cụ thể như: khái niệm làng nghề, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, khái niệm bảo tồn và phát huy, khái niệm giá trị và giá trị văn hóa. - Nghề truyền thống “Nghề”, theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội” [23, tr.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì “nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định” [9, tr. Qua hai khái niệm trên, có thể hiểu rằng, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động, mà qua quá trình được đào tạo và tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ của con người để tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [5, 16 tr. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm công nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và nghề phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Theo tác giả Bùi Văn Vượng nghề truyền thống là những nghề “đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta được sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề; kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất; sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam và là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách Nhà Nước” [42, tr. Như vậy, nghề truyền thống là những nghề được hình thành, tồn tại lâu đời trong lịch sử và phát triển đến ngày nay, được sản xuất tập trung tại một vùng hay làng, xã nào đó. Mỗi làng nghề truyền thống đều có đặc trưng cơ bản là kỹ thuật và công nghệ truyền thống, các nghệ nhân tạo ra những sản phẩm vừa mang tính hàng hóa, vừa mang tính nghệ thuật, mang đặc trưng riêng của làng nghề và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. - Làng nghề Làng là một đơn vị văn hóa, là tế bào sống trong xã hội Việt Nam.
Làng tương đương với một xã hay phường hiện nay. Tác giả Bùi Xuân Đính cho rằng: “Làng là một từ Nôm (từ Việt cổ) dùng để chỉ đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt ở nông thôn, có địa vực riêng (địa giới xác định); cấu trúc vật chất riêng (đường làng, ngõ xóm, các công trình thờ cúng); cơ cấu tổ 17 chức, lệ tục, tiếng nói của làng riêng (thể hiện ở âm hay giọng); tính cách riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định qua quá trình lịch sử”.98] Theo Từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc làm theo sự phân công lao động của xã hội hay nghề là khái niệm chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh”. Ở một khía cạnh khác, Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.11] Làng nghề được hình thành lâu đời trong lịch sử phát triển của xã hội. Chúng là đặc trưng kinh tế cho truyền thống kinh tế và văn hóa ở nông thôn.
Các làng nghề là cầu nối giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp. Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Làng nghề được công nhận phải đạt ba tiêu chí sau: 1. Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong nghiên cứu “Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn ở Việt Nam” năm 2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã xác định làng nghề dựa theo 2 tiêu chí: Có trên 20% số hộ 18 trong làng tham gia sản xuất thủ công hoặc chính quyền xã công nhận nghề thủ công đó có ý nghĩa quan trọng đối với làng. Các tiêu chí trên chỉ có tính chất tương đối vì với các nghề khác nhau tỷ lệ trên ở các làng nghề cũng khác nhau, mặt khác số lượng lao động làm nghề cũng có sự biến động thường xuyên.
Như vậy khái niệm làng nghề có thể hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề thu hút nhiều lao động và chiếm ưu thế về số hộ tham gia sản xuất, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông. Căn cứ vào những nghiên cứu của các nhà khoa học và tham khảo từ nguồn tài liệu của các học giả, khái niệm về văn hóa làng nghề được hiểu là một dạng đặc thù của văn hóa làng nói chung với việc sản xuất, sinh sống bằng một nghề hay một số nghề thủ công nghiệp. Đặc thù của văn hóa làng nghề là đặc trưng của việc làm nghề, sống bằng nghề và mang lại những dấu ấn văn hóa làng nghề. - Làng nghề truyền thống Cùng với sự phát triển của làng nghề thì phân công lao động và chuyên môn hoá trong sản xuất ngày càng phát triển.
Mỗi công đoạn được phân công chặt chẽ với từng công việc cụ thể của từng nhóm thợ. Nhờ đó, sản phẩm làm ra mang tính cạnh tranh cao giúp cho làng nghề phát triển không ngừng. Ban đầu là một vài gia đình rồi đến cả họ hàng và mở rộng cả làng cả xã, trải qua thời gian dài một số nghề thủ công tồn tại và phát triển đến ngày nay và đã trở thành những làng nghề truyền thống gắn với tên làng, tên xã ở mỗi vùng nông thôn của Việt Nam. Khái niệm “Truyền thống” theo từ nguyên của tiếng Latin là “traditio” có nghĩa là “hành vi lưu truyền”, gồm động từ “Tradere (traditus) nguyên nghĩa của nó là “Truyền lại”, “nhường lại”, “giao lại” và “phân phát”.
Theo nghĩa thông thường, trong Từ điển Tiếng Việt phổ thông, truyền thống được 19 định nghĩa: “Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác”.1017] Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời”. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định. Đối với những làng nghề chưa đạt tiêu chuẩn (1), (2) của tiêu chí công nhận làng nghề nêu trên nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống. Các làng nghề truyền thống còn tồn tại và phát triển đến hiện nay như: làng chiếu cói Định Yên (Đồng Tháp), làng lụa Tân Châu (An Giang)… Thông qua các khái niệm trên, làng nghề truyền thống được hiểu là làng nghề tồn tại và phát triển lâu đời, có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có nhiều hộ gia đình làm nghề truyền thống theo kiểu cha truyền con nối.
Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra khái niệm về văn hóa làng nghề truyền thống.