Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc của 54 dân tộc anh em, trong đó có 6 di sản âm nhạc đã được UNESCO ghi danh vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại tính đến năm 2014, tiêu biểu như Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh và Hát Ca trù. Trong cơ cấu dân số, người Kinh chiếm khoảng 87% với hơn 66 triệu người tại thời điểm khảo sát, nắm giữ hệ thống dân ca trải dài từ Bắc Bộ, Trung Bộ đến Nam Bộ. Tuy nhiên, trước làn sóng toàn cầu hóa và sự bùng nổ của các dòng nhạc giải trí hiện đại như K-pop, Pop, Rock và Hiphop, các loại hình âm nhạc truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Thêm vào đó, sự thay đổi phương thức lao động sản xuất khiến nhiều điệu hò, điệu lý mất đi môi trường thực hành xã hội nguyên bản, cùng với sự ra đi của thế hệ nghệ nhân cao tuổi nắm giữ vốn cổ.

Trước bối cảnh cấp bách đó, đề tài tập trung giải quyết vấn đề: Làm thế nào để bảo tồn, phát huy và truyền bá hiệu quả các giá trị di sản âm nhạc truyền thống thông qua cơ quan báo chí - truyền thông chủ lực của quốc gia. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận - pháp lý, đánh giá toàn diện thực trạng lưu trữ và truyền bá di sản âm nhạc tại Đài Tiếng nói Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trọng tâm tại Đài Tiếng nói Việt Nam trong khung thời gian 24 tháng, từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2014, bao quát hoạt động của Phòng Công nghệ lưu trữ âm thanh, Thư viện, Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam và toàn bộ 4 loại hình báo chí trực thuộc. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm tối ưu hóa quy trình bảo quản hàng chục nghìn giờ băng tư liệu âm thanh quý hiếm, đồng thời mở rộng biên độ tiếp cận của các chương trình dân ca đến hơn 90 triệu công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận báo chí truyền thông hiện đại và hệ thống quan điểm, đường lối văn hóa của Việt Nam:

  • Mô hình truyền thông của Harold Lasswell và Claude Shannon - Warren Weaver: Khung lý thuyết này phân tích quá trình truyền bá di sản âm nhạc qua các yếu tố cấu thành: Chủ thể phát thông điệp (Đài Tiếng nói Việt Nam), Thông điệp (các làn điệu dân ca và nhạc cổ truyền), Kênh truyền dẫn (4 loại hình báo chí), Công chúng tiếp nhận (thính giả, độc giả đa tầng lớp), Hiệu quả tác động xã hội và cơ chế phản hồi thông tin. Mô hình cũng chỉ rõ các yếu tố gây nhiễu trong tiếp nhận âm nhạc cổ truyền ở kỷ nguyên số.
  • Hệ thống quan điểm chỉ đạo văn hóa của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh: Nền tảng tư tưởng bắt nguồn từ Đề cương Văn hóa năm 1943, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc bảo tồn di sản nghệ thuật phải biết "gạn đục khơi trong, tránh phục cổ máy móc", "chớ có gieo vừng ra ngô".

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong luận văn gồm 5 thuật ngữ chính:

  1. Di sản văn hóa phi vật thể: Dạng thức văn hóa tồn tại trong ký ức, kỹ năng, tập quán và diễn xướng của cộng đồng.
  2. Di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc: Các làn điệu dân ca, nhạc cụ, dàn nhạc và nghệ thuật trình diễn cổ truyền mang đậm bản sắc dân tộc.
  3. Bảo tồn: Hoạt động gìn giữ nguyên trạng hoặc tương đối nguyên trạng các giá trị tinh hoa không để bị thất truyền hay biến dạng.
  4. Phát huy: Quá trình làm cho các giá trị âm nhạc truyền thống tiếp tục nảy nở, thích nghi và lan tỏa trong đời sống xã hội đương đại.
  5. Phương thức truyền bá: Tập hợp các biện pháp, công cụ và hình thức truyền thông đại chúng nhằm phổ biến di sản đến công chúng rộng rãi.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ Phòng Công nghệ lưu trữ âm thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam với 2 mốc kiểm kê lịch sử (tháng 7 năm 2006 và tháng 1 năm 2014); nguồn tư liệu từ Thư viện Quốc gia, Thư viện Đài Tiếng nói Việt Nam; các chương trình phát thanh trên 5 hệ kênh (VOV1, VOV2, VOV3, VOV4, VOV5); các tác phẩm trên Báo điện tử VOV.VN, Báo in Tiếng nói Việt Nam, Kênh truyền hình VOVTV và các chương trình biểu diễn của Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) để khảo sát toàn bộ 59 văn bản pháp quy từ năm 1945 đến năm 2014 điều chỉnh lĩnh vực di sản văn hóa. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn lọc hơn 120 tác phẩm báo chí, chương trình âm nhạc dân gian đặc trưng phát sóng trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2014 đại diện cho đầy đủ các vùng văn hóa dân ca: Bắc Bộ, Trung Bộ (Thanh - Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ), Nam Bộ và các dân tộc thiểu số miền núi.
  • Phương pháp phân tích: Kết hợp phương pháp thống kê, phân loại, phân tích nội dung truyền thông (content analysis) và phương pháp sơ đồ tư duy (mind mapping). Việc lựa chọn các phương pháp này cho phép định lượng chính xác dung lượng phát sóng, phân loại khoa học các làn điệu âm nhạc và nhận diện rõ nét tính tương tác đa phương tiện của từng phương thức truyền thông.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích thực tiễn tại Đài Tiếng nói Việt Nam đã mang lại 3 phát hiện khoa học quan trọng:

  • Hệ thống hóa kho dữ liệu di sản quy mô lớn: Đài Tiếng nói Việt Nam là cơ quan truyền thông sở hữu kho tàng âm thanh dân tộc phong phú bậc nhất cả nước. Số liệu so sánh giữa 2 mốc thời gian (tháng 7 năm 2006 và tháng 1 năm 2014) cho thấy số lượng tác phẩm dân ca và nhạc cổ truyền được chuyển sang lưu trữ số hóa tại Phòng Công nghệ lưu trữ âm thanh tăng trưởng hơn 40%. Toàn bộ 20 bài bản tổ của nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ (gồm 3 bài Nam, 6 bài Bắc, 7 bài Bài, 4 bài Oán) cùng 12 trò diễn của Hát múa Đông Anh (10 trò có lời ca và 2 trò không có lời ca) đã được thu âm, phân loại bài bản.
  • Định hình 2 phương thức bảo tồn song song: Luận văn chỉ ra Đài Tiếng nói Việt Nam đang vận hành đồng thời 2 phương thức:
    1. Bảo tồn nguyên gốc: Thực hiện ghi âm điền dã các nghệ nhân dân gian hát mộc, lưu giữ các dị bản cổ của Hát Xoan, Ca trù, Hát Dậm Quyển Sơn, Hát Chèo tàu.
    2. Bảo tồn qua phát huy: Chiếm khoảng 65% thời lượng phát sóng, thông qua việc đặt lời mới cho các làn điệu Chèo, Tuồng, Cải lương, phối khí thêm dàn nhạc dân tộc và hát bè đệm nhằm đưa âm nhạc cổ truyền thích ứng với hơi thở cuộc sống hiện đại.
  • Mạng lưới truyền bá đa phương tiện phủ sóng rộng rãi: Hoạt động truyền bá được triển khai đồng bộ trên cả 4 loại hình báo chí. Trong đó, phát thanh đóng vai trò trụ cột với 5 hệ kênh chuyên biệt; nổi bật là VOV4 phát thanh bằng 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số và VOV5 phát thanh đối ngoại bằng 12 ngôn ngữ quốc tế. Kênh truyền hình VOVTV và Báo điện tử VOV.VN đóng góp khoảng 30% lượng tiếp cận mới từ nhóm công chúng trẻ thông qua các phóng sự đa phương tiện và video biểu diễn trực tiếp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố nội dung dân ca trên các kênh truyền thông phản ánh sự chuyển dịch rõ nét trong thị hiếu thưởng thức âm nhạc. Việc kết hợp dàn nhạc dân tộc đệm cho các thể loại trước đây chỉ hát "chay" đã giúp các tác phẩm dễ tiếp cận hơn với đại chúng, song cũng làm dấy lên những tranh luận chuyên môn về nguy cơ làm biến dạng bản sắc gốc.

Khi so sánh với các công trình trước đây, kết quả của luận văn có sự tiếp nối và mở rộng vượt bậc:

  • Bổ sung dữ liệu thực chứng cho nghiên cứu của tác giả Phan Tuyết Minh năm 2003 về giải pháp phát triển kho lưu trữ băng đĩa dân ca.
  • Kế thừa hệ thống phân loại âm nhạc của tác giả Đỗ Hồng Quân năm 2005 tại Hệ VOV3.
  • Mở rộng phạm vi đánh giá chất lượng chương trình so với công trình của tác giả Trang Công Tiến năm 2007 và tác giả Tạ Mai Anh năm 2009.

Điểm mới nổi bật của luận văn là lần đầu tiên đặt các phương thức bảo tồn và truyền bá trong chỉnh thể hệ sinh thái truyền thông 4 loại hình kết hợp với hoạt động biểu diễn thực nghiệm của Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam. Để biểu đạt rõ nét tương quan này, dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa qua Bảng tổng hợp di sản âm nhạc các dân tộc (Bảng 1.1 trong toàn văn) và các sơ đồ cấu trúc truyền thông, minh chứng rằng các chương trình dân ca có lời mới chiếm tỷ trọng áp đảo so với các bản ghi âm cổ điển thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và truyền bá di sản âm nhạc dân tộc:

  • Tăng tốc số hóa 100% kho băng tư liệu âm thanh: Nâng cấp hệ thống máy chủ và chuẩn hóa định dạng số hóa âm thanh chất lượng cao tại Phòng Công nghệ lưu trữ âm thanh. Mục tiêu hoàn thành số hóa toàn bộ các bản ghi âm dạng băng từ sản xuất trước năm 2000 trong lộ trình 3 năm (2015 - 2018), do Lãnh đạo Đài và Ban Công nghệ Thông tin trực tiếp điều phối.
  • Tối ưu hóa khung giờ phát sóng và thời lượng chương trình: Cơ cấu lại lịch phát sóng các chương trình Dân ca và Nhạc cổ truyền, cam kết tăng ít nhất 20% thời lượng vào các khung giờ vàng (từ 19h00 đến 21h30) trên VOV1, VOV2 và VOV3. Thời gian triển khai định kỳ theo từng quý bắt đầu từ năm 2015, dưới sự phụ trách của Ban Biên tập Âm nhạc.
  • Xây dựng chính sách ký hợp đồng ghi âm độc quyền với nghệ nhân: Thiết lập cơ chế đãi ngộ thỏa đáng, tổ chức các chuyến điền dã định kỳ 2 lần mỗi năm để thu âm tối thiểu 50 nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú nắm giữ các làn điệu cổ có nguy cơ thất truyền. Chủ thể thực hiện là Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với các Hội đồng chuyên môn âm nhạc từ năm 2015 đến năm 2020.
  • Phát triển chuyên trang âm nhạc di sản đa nền tảng: Xây dựng ứng dụng và chuyên mục trực tuyến tương tác trên Báo điện tử VOV.VN và mạng xã hội, tích hợp tính năng nghe nhạc kèm lời bình và tư liệu lịch sử. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng 35% lượt tiếp cận của thính giả dưới 30 tuổi trong giai đoạn 2015 - 2017, do Khối Báo Điện tử và Báo hình VOVTV đảm nhận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Biên tập viên, Phóng viên và Nhà sản xuất chương trình âm nhạc: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú về cấu trúc các làn điệu dân ca 3 miền, phương pháp biên tập lời mới và kinh nghiệm xây dựng các chuyên mục dạy hát dân ca, tổ chức liên hoan tiếng hát truyền thống trên làn sóng phát thanh - truyền hình.
  • Lãnh đạo và Nhà quản lý các cơ quan báo chí - truyền thông: Cung cấp mô hình tham chiếu toàn diện về cách thức tổ chức bộ máy, liên kết 4 loại hình báo chí để tối ưu hóa nguồn lực truyền thông phục vụ các nhiệm vụ chính trị - văn hóa quốc gia.
  • Giảng viên, Học viên cao học và Sinh viên ngành Báo chí, Truyền thông, Âm nhạc học: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng trong báo chí chuyên ngành, phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy và viết khóa luận tốt nghiệp.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và các tổ chức bảo tồn di sản: Cung cấp cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm để Cục Di sản Văn hóa, Viện Âm nhạc và UNESCO xây dựng hồ sơ khoa học, thẩm định chính sách và đánh giá tác động truyền thông đối với các di sản văn hóa phi vật thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận văn phân biệt ranh giới giữa bảo tồn nguyên gốc và bảo tồn qua phát huy như thế nào?
Bảo tồn nguyên gốc là việc lưu giữ nguyên vẹn làn điệu, cấu trúc bài bản và cách hát truyền thống của nghệ nhân dân gian trong môi trường văn hóa cổ truyền. Trong khi đó, bảo tồn qua phát huy là việc đặt lời mới, bổ sung dàn nhạc đệm, bè phối hoặc cải biên hình thức diễn xướng để phù hợp với thị hiếu âm nhạc đương đại mà vẫn giữ được cốt cách dân tộc.

2. Đài Tiếng nói Việt Nam đã sử dụng bao nhiêu ngôn ngữ để truyền bá âm nhạc dân tộc?
Trong hoạt động phát thanh, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát sóng các chương trình âm nhạc dân tộc qua Hệ VOV4 bằng 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số và qua Hệ VOV5 đối ngoại bằng 12 ngôn ngữ quốc tế, đưa âm nhạc truyền thống tiếp cận rộng rãi đến cộng đồng các dân tộc trong nước và thính giả tại hơn 100 quốc gia.

3. Khung thời gian và phạm vi khảo sát thực tế của luận văn là giai đoạn nào?
Khung thời gian khảo sát trọng tâm của luận văn diễn ra trong 24 tháng, từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 5 năm 2014. Phạm vi khảo sát bao gồm Phòng Công nghệ lưu trữ âm thanh, Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam, Thư viện và các sản phẩm báo chí trên 4 loại hình: phát thanh, truyền hình, báo in và báo điện tử.

4. Vì sao việc bảo tồn di sản âm nhạc lại cần sự tham gia của 4 loại hình báo chí?
Mỗi loại hình báo chí có thế mạnh riêng biệt: phát thanh truyền tải chiều sâu cảm xúc của âm thanh, truyền hình tái hiện sống động không gian diễn xướng và trang phục, báo in cung cấp thông tin phân tích học thuật chuyên sâu, còn báo điện tử tạo môi trường lưu trữ mở và tương tác nhanh với công chúng trẻ. Sự tích hợp này tạo nên sức mạnh truyền thông đa chiều, khép kín.

5. Luận văn đã tham khảo bao nhiêu văn bản pháp lý về di sản văn hóa?
Luận văn đã thống kê và phân tích một hệ thống toàn diện gồm 59 văn bản pháp luật và văn bản dưới luật của Việt Nam từ Sắc lệnh số 65 năm 1945 đến các Thông tư, Quyết định năm 2014, cùng các Công ước quốc tế quan trọng của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh và 59 văn bản pháp quy liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc Việt Nam.
  • Nhận diện và phân loại chi tiết kho tàng âm nhạc dân gian 3 miền cùng 54 dân tộc thiểu số đang được lưu trữ, xử lý kỹ thuật tại Đài Tiếng nói Việt Nam.
  • Đánh giá khách quan thực trạng vận hành 2 phương thức bảo tồn nguyên gốc và phát huy trên toàn bộ 4 loại hình báo chí chủ lực trong 24 tháng khảo sát.
  • Chỉ rõ những thành tựu nổi bật trong công tác số hóa dữ liệu cũng như những hạn chế về khung giờ phát sóng, cơ chế đãi ngộ nghệ nhân và mức độ tương tác trực tuyến.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ, có tính khả thi cao về công nghệ số hóa, tổ chức sản xuất nội dung, phát triển nhân lực và mở rộng hạ tầng truyền thông.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập một khung tham chiếu khoa học về vai trò của cơ quan báo chí quốc gia trong việc gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc giữa thời kỳ hội nhập. Trong giai đoạn chuyển đổi số tiếp theo từ năm 2015 đến năm 2020, việc hiện đại hóa quy trình lưu trữ và đa dạng hóa phương thức thể hiện sẽ là chìa khóa quyết định sự sống còn của di sản. Các nhà nghiên cứu, nhà báo và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật hãy tích cực tham khảo, ứng dụng các giải pháp của luận văn để cùng chung tay bảo tồn, lan tỏa mạnh mẽ những giai điệu ngàn năm của dân tộc ra thế giới.