Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu: 30 trang - Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 9 trang - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 94 trang - Kết luận và kiến nghị: 2 trang. - Tài liệu tham khảo: 17 trang CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) Chi Kim tuyến (Anoectochilus) bao gồm khoảng 40 - 50 loài thảo mộc nhỏ trên mặt đất khác nhau từ dãy Himalaya ở Ấn Độ đến các dãy núi của Đông Nam Á, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, và một số quần đảo Thái Bình Dương. Tên Anoectochilus xuất phát từ tiếng Hy Lạp để chỉ những loài cây có hoa nhỏ nhưng có cánh môi lớn mở rộng và chia thành hai thuỳ.
Ngoài ra, nhiều loài thuộc chi này còn có đặc trưng bởi những đường vân lá cầu kỳ nổi bật lấp lánh màu hồng, bạc hoặc vàng. Ở mức độ địa phương, Kim tuyến được biết đến là một loại dược liệu quý có tác dụng bồi bổ sức khoẻ, trị rắn cắn và các bệnh gan, phổi. Những người dân địa phương sử dụng Kim tuyến mọc trong rừng như một món quà thiên nhiên ban tặng để tăng cường sức khoẻ. Vị trí phân loại của chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) Chi Kim tuyến (Anoectochilus) được Carlvon Blume mô tả lần đầu tiên năm 1825, là một chi thực vật có hoa thuộc họ Lan (Orchidaceae).
Trên thế giới, chi này có khoảng gần 50 loài [160; 161]. Danh sách các loài thuộc chi Kim tuyến (nguồn: https://www. Anoectochilus albomarginatus Loudon 3. Anoectochilus annamensis Aver.
Anoectochilus brevilabris Lindl. Anoectochilus burmannicus Rolfe 7. Anoectochilus calcareus Aver. Anoectochilus chapaensis Gagnep.
Anoectochilus daoensis Gagnep. Anoectochilus dewildeorum Ormerod. Anoectochilus elatus Lindl. Anoectochilus falconis Ormerod.
Anoectochilus flavescens Blume 15. Anoectochilus formosanus Hayata 16. Anoectochilus geniculatus Ridl. Anoectochilus grandiflorus Lindl.
Anoectochilus imitans Schltr. Anoectochilus insignis Schltr. Anoectochilus integrilabris Carr. Anoectochilus klabatensis (Schltr.
Anoectochilus koshunensis Hayata 25. Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie 27. Anoectochilus narasimhanii Sumathi & al. Anoectochilus papuanus (Schltr.
Anoectochilus pectinatus (Hook. Anoectochilus petelotii (Gagnep. Anoectochilus reinwardtii Blume. Anoectochilus rhombilabius Ormerod.
Anoectochilus sandvicensis Lindl. Anoectochilus setaceus Blume 38. Anoectochilus sikkimensis King & Pantl. Anoectochilus subregularis (Rchb.
Anoectochilus tetrapterus Hook. Anoectochilus tridentatus Seidenf.Chang Trong đó có 3 loài có tên trong danh lục đỏ của thế giới, đó là: Anoectochilus koshunensis, Anoectochilus sandvicensis và Anoectochilus zhejiangensis [162]. Anoectochilus koshunensis được tác giả Hayata mô tả và phân loại năm 1914 nhưng không có chú thích về mẫu vật (Synonyms: Odontochilus koshunensis (Hayata) Ying S. Loài này được tìm thấy ở quần đảo Ryukyu và Đài Loan trong các cánh rừng lá rộng, thường xanh ở độ cao từ 700 đến 2000 m.
Cây thân thảo nhỏ, ít lá 3-6 lá mọc so le, lá mặt trên màu xanh đậm có đường vân kim tuyến màu vàng hoặc màu trắng. Cây ra hoa vào mùa hè và đầu mùa thu, hoa màu trắng. koshunensis bị đe doạ tuyệt chủng do tình trạng khai thác quá mức. Cho đến nay, Đài Loan đã nhân giống và nuôi trồng được chúng nhưng các thông tin còn chưa được cập nhật đầy đủ.
Anoectochilus sandvicensis Lindl. là loài phổ biết nhất trong ba loài hoa phong lan đặc hữu ở quần đảo Hawaii. Loài này phân bố hầu hết trên các hòn đảo chính dưới tán cây râm mát. Thân thảo nhỏ, lá màu xanh, hoa màu vàng xanh.
Mối đe dọa chính của loài này là các loài xâm hại, đặc biệt là loài ốc sên.Chang là loài thân thảo nhỏ cao khoảng 8-16cm, cây có 2-6 lá hình trứng, mặt trên màu xanh đen, mặt dưới màu đỏ nâu, hoa màu trắng. Cây ra hoa từ tháng 7- 9. Loài này phân bố trong những khu rừng rậm ở độ cao 700- 1200 m ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Chiết Giang Trung Quốc. Loài này có nguy cơ tuyệt chủng do vùng phân bố hẹp và bị khai thác quá mức [80].1: Anoectochilus koshunensis mọc tự nhiên tại Đài Loan: a.
Hình thái hoa; b. Cây mang hoa ( Ảnh: Lan Fu Wang) a b Hình 1.2: Anoectochilus zhejiangensis mọc tự nhiên tại Chiết Giang: a. Cây mang hoa; b. hình thái hoa ( Ảnh: C.
Điều kiện sống và vùng phân bố Hầu hết các loài Kim tuyến sống dưới tán rừng rậm có độ che phủ cao 80-90%, trên tầng mùn, dưới gốc cây, trên các triền núi đá vôi, dọc theo khe suối, dưới các tán cây to, trên những thân cây mục trong rừng ẩm, rừng mưa nhiệt đới, rừng lá rậm thường xanh, rừng tre nứa ở độ cao 400-1. Các loài thuộc chi này đa phần ưa độ ẩm cao và ưa bóng râm, kỵ ánh sáng, yêu cầu đất nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí. Vùng phân bố: Các loài Kim tuyến phân bố trên một khu vực khá rộng, từ vùng Himalaya đến Đông Nam Á, miền Nam Trung Quốc, Úc, Papua New Guinea và một số hải đảo, quần đảo thuộc Thái Bình Dương. Theo Alec M và cộng sự (2003), chi Anoectochilus bao gồm khoảng 30 loài cây nhỏ trên mặt đất, trên lớp mùn hoặc rêu đá trong những cánh rừng rậm nhiệt đới thuộc các quốc gia: Sri Lanka, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Đài Loan- Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippin, Nhật Bản, Indonesia, Papua New Guinea, các quần đảo Solomon, Vanuatu, New Calidonia, Fiji và Samoa [33].3: Phân ố của Anoectochilus trong tự nhiên a.
burmannicus mọc trên đá; b. setaceus dưới tán rừng ẩm; c. albolineatus mọc trên tầng đất mùn trong tự nhiên (Ảnh: Daylily SLP) 1. Giá trị của chi Kim tuyến: Ngoài giá trị làm cảnh, một số loài thuộc chi Kim tuyến được ví như thần dược nhờ công dụng chữa bệnh phong phú và đa dạng.
Theo y học cổ truyền, Kim tuyến được mô tả là cây thân thảo nhỏ mọc từ đất, có vị ngọt, hơi chát, tính mát. Bộ phận dùng là toàn thân, được thu hái quanh năm, rửa sạch, dùng tươi hoặc khô. Cây có tác dùng chữa thần kinh suy nhược, tăng cường sức khỏe, chữa bệnh phổi, di tinh, xuất tinh sớm, yếu gan, yếu tỳ và các vết thương do rắn cắn; còn có tác dụng bổ máu, giải nhiệt. Theo dược điển của Đài Loan, Kim tuyến chữa trị bệnh phổi, di tinh, xuất tinh sớm, yếu gan, yếu tỳ và các vết thương do rắn cắn; còn có tác dụng bổ máu, giải nhiệt.
Kim tuyến có tác dụng tăng cường sức khỏe, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quản. Cách điều trị là đắp bên ngoài để trị các chỗ sưng vết thương và chỗ rắn cắn. Trong sách “Thạch thảo gia đình tư liệu” của Trần Đào Thích viết Trẻ em hay khóc đêm dùng loài thảo mộc này sắc uống sẽ khỏi. Theo Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào (1958) Kim tuyến là một trong những dược thảo quý giá, giúp bổ máu, dưỡng âm, chữa trị nóng phổi và nóng gan.
Trong nghiên cứu điều tra của Cam Vĩ Tùng (1964) cũng cho thấy Kim tuyến là một vị thuốc rất quý giá trong các tiệm thuốc bắc Đài Loan, là cây thuốc mang tính mát và có vị ngọt, thanh nhiệt, thanh huyết, bổ phổi, giải trừ u uất, thông trung khí, bồi dưỡng sức khỏe, chủ trị lục phủ ngũ tạng đẩy lùi tâm hỏa, nóng gan, bệnh phổi, thổ huyết, ho hen, đau ngực, đau lá lách, đau cuống họng, cao huyết áp, trẻ con chậm lớn, suy thận. Những người dân miền núi thường dùng Kim tuyến sắc uống, giúp chữa trị đau bụng, đau ruột, sốt cao, hoặc đắp bên ngoài chỗ vết thương bị rắn cắn, các chỗ sưng. Trẻ em hay khóc dùng kim tuyến liên sắc uống sẽ khỏi. Kim tuyến có tính kháng khuẩn, giúp chữa các bệnh viêm gan mãn tính, bệnh viêm khí quản.
Ngoài ra, cây thuốc còn có công dụng trị các bệnh như thần kinh suy nhược, đau lưng, phong thấp, chữa ho khan, đau họng, cao huyết áp, suy thận, làm tiêu đờm, giải độc, giải nhiệt, chữa di tinh. Kim tuyến dùng cả cây tươi hoặc khô sắc uống. Liều dùng trong ngày khoảng 20g tươi hoặc 5g khô. Có thể dùng cả cây tươi giã nát đắp chỗ vết thương sưng đau.
Một số bài thuốc từ Kim tuyến của phòng khám đông y Thọ Xuân Đường như sau: 1) Bài thuốc chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ: 25g lan gấm, 12g hoa nhài, 10g hoa thiên lý, 8g tâm sen, 8g ngưu tất, 15g mạch môn, 10g huyền sâm, 20g quyết minh tử, 8g cam thảo đất, 12g hoài sơn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 3 – 5 thang. 2) Bài thuốc chữa kém ăn: 25g lan gấm, 8g liên nhục, 6g sơn tra, 5g trần bì, 20g huyền sâm, 5g quyết minh tử, 10g hoài sơn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 5 – 7 thang.
3) Bài thuốc chữa ho khạc ra máu: 30g lan gấm, 15g ngưu tất, 15g quyết minh tử, 20g hoài sơn, 20g huyền sâm, 25g mạch môn, sắc uống. Mỗi ngày sắc 1 thang, chia làm 3 lần trong ngày, dùng 5 – 7 thang. Y học hiện đại đã phân tích và xác định được Anoectochilus chứa các thành phần hoạt chất có dược tính cực kì quan trọng bao gồm: Flavonoid (quercetin, isorhamnetin), steroid (24 ~ isopropenyl cholesterol, sterol, ergosrol, stigmasterol, campesterol, sitosterol β-), trierpenoids (friedelin, axít succinic, axít coumaric, axít ferulic, daocosterol, axít palmitic, axit aleanolic, axít bearberry) và đường (polysaccharides 13,32%, oligosacharides 11,24%, đường đơn 9,73%), alkaloid, glycoside tim mạch, este, taurine, axít amin, các chất khoáng đa lượng và vi lượng….Thành phần polysaccharide, taurine, axít amin và các chất khoáng đa vi lượng có trong Anoectochilus còn cao hơn cả loài nhân sâm mọc hoang dã nên còn được xưng tụng là Nam Trùng Thảo. Tình hình nghiên cứu về chi Kim tuyến (Anoectochilus Blume) trên thế giới Những kết quả nghiên cứu về chi Kim tuyến trên thế giới chủ yếu tập trung ở Trung Quốc, ngoài ra, còn có các quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan và các nước Đông Nam Á khác.
Nhưng nghiên cứu về chi Kim tuyến đi theo ba hướng chính là nghiên cứu về đa dạng thực vật (thành phần loài, vùng phân bố, thực trạng…), nghiên cứu về giá trị dược liệu, nghiên cứu về giải pháp nhân giống và nuôi trồng. Đa dạng loài Chi Kim tuyến (Anoectochilus) với khoảng 40- 50 loài trên thế giới được phân bố ở khắp các vùng lục địa Châu Á, Úc, Papua, New Guinea và một số hải đảo thuộc quần đảo Thái Bình Dương. Các kết quả nghiên cứu thành phần loài, vùng phân bố hay đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài thuộc chi Kim tuyến tập trung ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, nơi có số lượng các loài Lan nói chung và chi Kim tuyến nói riêng phong phú và đa dạng vào bậc nhất trên thế giới [153, 155]. Tại Trung Quốc, các loài thuộc chi Anoectochilus phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Đông Nam, phía Nam và đảo Hải Nam.
Theo Chen SC và cộng sự (2008), ghi nhận có 11 loài thuộc chi Anoectochilus phân bố ở nhiều vùng khác nhau đó là: A.