Chương 1 TÌNH HÌNH TÀI LIỆU LƯU TRỮ TẠI CÁC TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA 1.1 Thành phần, số lượng tài liệu do các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia quản lý: 11 z Một trong những chức năng quan trọng nhất của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước là trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ có ý nghĩa quốc gia. Để thực hiện chức năng này, ba Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã được thành lập. Hiện nay, các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, II và III đang bảo quản khoảng 30 km tài liệu có ý nghĩa quốc gia 9, 13. Những tài liệu này rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức.
Nội dung tài liệu phản ánh mọi mặt hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật … thuộc các thời kỳ khác nhau trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Những hoạt động đó được ghi lại bằng nhiều phương pháp khác nhau, trên những vật mang tin khác nhau, bằng những ngôn ngữ khác nhau. Có tài liệu được khắc trên gỗ như tài liệu mộc bản, có tài liệu được viết trên giấy dó như tài liệu châu bản, có tài liệu được in, đánh máy trên giấy công nghiệp, có tài liệu được viết bằng chữ Hán - Nôm, có tài liệu bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, có tài liệu bằng tiếng Việt… Những tài liệu này là di sản văn hoá của dân tộc và là một bộ phận của di sản văn hoá thế giới, nó có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế, tài liệu lưu trữ đã góp phần không nhỏ giúp cho việc hoạch định chủ trương, đường lối chiến lược kinh tế, cũng như quy hoạch các vùng kinh tế được sát thực và có cơ sở khoa học.
Trên phương diện văn hoá, qua tài liệu lưu trữ chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc thù của một nền văn hoá dân tộc được bảo tồn và truyền lại trên nhiều góc độ qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Có thể thấy không những ở nội dung tài liệu mà ngay chính bản thân các vật liệu làm nên tài liệu cũng thể hiện sự phát triển và giao lưu văn hoá của dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài. Tài liệu lưu trữ phần lớn là bản gốc, bản chính của văn bản, chứa nhiều bí mật quốc gia, vì vậy bất cứ cơ quan nào trong khi thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình đều cần đến tài liệu lưu trữ. Những tài liệu này sẽ cung cấp thông tin cần thiết và đáng tin cậy cho việc nghiên cứu tình hình, đề ra các quyết định quản lý một cách chính xác, khoa học.
Chính vì vậy, ngay từ khi mới được thành lập các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia đã trở thành địa chỉ quen thuộc của các nhà nghiên cứu, các cơ quan, tổ chức và mọi người dân.1 Thành phần, số lượng tài liệu do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I quản lý: 12 z Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, tiền thân là Kho Lưu trữ Trung ương của Đông Dương thuộc Pháp, được thành lập theo Nghị định ngày 26 tháng 12 năm 1918 của Toàn quyền Đông Dương để bảo quản tài liệu của Phủ Toàn quyền Đông Dương, các công sở và cơ quan trực thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ và các tỉnh của Bắc Kỳ, các cơ quan tổ chức đã giải thể có giá trị thuần túy về mặt lịch sử 40, 213 - 214. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Kho Lưu trữ này được giao cho Bộ Quốc gia Giáo dục quản lý. Từ năm 1955, Kho Lưu trữ này lại chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa. Đến năm 1962 với sự thành lập Cục Lưu trữ thuộc Phủ Thủ tướng bằng Nghị định số 102/CP ngày 04 tháng 9 năm 1962, Kho Lưu trữ này được bàn giao cho Cục Lưu trữ thuộc Phủ Thủ tướng với tên gọi là Kho Lưu trữ Trung ương.
Năm 1984, khi Nghị định số 34/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Lưu trữ Nhà nước được ban hành, Kho Lưu trữ Trung ương được đổi tên là Kho Lưu trữ Nhà nước Trung ương. Ngày 06 tháng 9 năm 1988, thực hiện Quyết định số 223/CT ngày 08 - 8 – 1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về các Trung tâm Lưu trữ, Cục Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Quyết định số 385/ QĐ - TC đổi tên các Kho Lưu trữ Nhà nước Trung ương thành các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia. Theo Quyết định này, Kho Lưu trữ Nhà nước Trung ương Hà Nội được đổi tên thành Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I với nhiệm vụ trực tiếp quản lý các phông lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc thuộc các thời kỳ lịch sử trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của nước ta. Ngày 10 tháng 6 năm 1995, khi Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được thành lập, Cục Lưu trữ Nhà nước đã ra Quyết định chuyển giao các phông tài liệu lưu trữ thuộc thời kỳ Dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa từ sau năm 1945 cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III quản lý.
Từ đây Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I chỉ còn quản lý các phông tài liệu lưu trữ thuộc giai đoạn từ năm 1945 về trước. Như vậy trải qua quá trình hình thành và phát triển cũng như quá trình tiếp nhận và bàn giao tài liệu, hiện nay Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I đang trực tiếp quản lý khoảng 6000 mét tài liệu có thời gian từ năm 1488 đến năm 1954 9, 28 bao gồm các khối tài liệu chính như sau: 1- Khối tài liệu Hán Nôm: được hình thành dưới các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Khối tài liệu này hầu hết được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trên chất liệu giấy dó, phương tiện ghi tin chủ yếu là bút lông và mực tàu. Khối tài liệu này gồm các phông và bộ sưu tập sau đây: 13 z - Châu bản triều Nguyễn: gồm 743 tập tài liệu có thời gian từ năm 1802 – 1945 45, 9 ; - Địa bạ triều Nguyễn: gồm 10.044 tập có thời gian từ 1805 – 1837 32, 22 ; - Nha Kinh lược Bắc kỳ: gồm 3525 tập tài liệu có thời gian từ 1886 – 1897 13, 139 ; - Huyện Thọ Xương: gồm gần 700 tập tài liệu có thời gian từ 1827 – 1898 36, 113 ; - Sưu tập tài liệu Hương Khê: gồm 9 tập với thời gian từ năm 1619 – 1858 44, 110 ; - Sưu tập tài liệu Vĩnh Linh: có thời gian từ năm 1740 – 1932.
Đặc biệt trong khối tài liệu bằng chữ Hán Nôm có một văn bản có niên đại từ thế kỷ XV mà ngành lưu trữ của nước ta còn bảo quản được một bản duy nhất, đó là văn bằng của Bộ Lại cấp cho Phạm Nam vào năm Hồng Đức thứ 19 (1488). So với bề dày lịch sử tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam thì tài liệu lưu trữ được của thời kỳ này còn lại quá ít, nhưng nội dung tài liệu phản ánh tương đối đầy đủ các mặt hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, tôn giáo của xã hội phong kiến Việt Nam. Do nội dung phong phú nên nhiều tài liệu trong khối này như khối Châu bản đã từng được sử dụng là nguồn sử liệu chính để biên soạn các bộ chính sử lớn như Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện… Không những chỉ chứa đựng tiềm năng thông tin phong phú, khối tài liệu Hán - Nôm còn là nguồn tư liệu để nghiên cứu về thể thức văn bản của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Ở đây có văn bản do Vua ban hành như Chiếu, Chỉ, Dụ… có văn bản do các Bộ, Viện, Phủ, Nha cũng như các cơ quan hành chính ở Trung ương và địa phương hoặc các cá nhân tạo lập như Tấu, Sớ, Trình, Biểu… Những tài liệu này là nguồn sử liệu chữ viết vô cùng quan trọng để nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời phong kiến, vì vậy nó phải được bảo quản một cách tốt nhất để có thể sử dụng và phát huy tài sản quí báu đó một cách hiệu quả nhất.
2- Khối tài liệu tiếng Pháp: Khối tài liệu này được hình thành trong quá trình hoạt động của bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương và Bắc Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945. Đây là khối tài liệu lớn nhất trong số tài liệu do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I quản lý với hơn 5000 mét giá 41, 34. Tài liệu được viết, in, đánh máy bằng tiếng Pháp trên nhiều chất liệu giấy khác nhau, trong đó chủ 14 z yếu là giấy công nghiệp. Toàn bộ khối tài liệu tiếng Pháp được phân loại thành 2 nhóm: Tài liệu hành chính và tài liệu kỹ thuật.
- Tài liệu hành chính: gồm gần 50 phông tài liệu của các cơ quan thuộc bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông dương và Bắc kỳ 27, 15 - 16. Cụ thể là: Ở cấp Đông Dương: có các phông tài liệu của các cơ quan quản lý hành chính của Đông Dương như: phông Phủ Toàn quyền Đông Dương, phông Đô đốc và Thống đốc. phông của các cơ quan chuyên môn như: phông Sở Tài chính Đông Dương, phông Nha Nông lâm Thương mại Đông Dương, phông Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương. Ở cấp kỳ, tỉnh: cũng có các phông của các cơ quan quản lý hành chính như phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, phông Toà sứ Bắc Giang, phông Toà sứ Hà Đông, phông Toà sứ Nam Định, phông Toà Đốc lý Hà Nội.
Phông của các cơ quan chuyên môn như: phông Sở Y tế Bắc Kỳ, phông Sở Học chính Bắc Kỳ, phông Sở Nông nghiệp Bắc Kỳ, phông Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Tuy nhiên khối tài liệu này chỉ là một phần trong số tài liệu được sản sinh ra trong quá trình hoạt động của bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, vì theo Thỏa ước giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp Pignon ký ngày 15.1950 Pháp đã chuyển phần lớn tài liệu của các cơ quan chung cho 5 xứ Đông Dương về Pháp như phông Toàn quyền Đông Dương, phông Đô đốc và Thống đốc 24, 106-107. - Tài liệu kỹ thuật: gồm tài liệu thiết kế xây dựng của gần 200 công trình kiến trúc dân dụng, công trình thủy lợi và công trình giao thông.