Đặt vấn đề Trong đời sống hằng ngày của con người vấn đề ăn được đặt ra trước tiên trong đó lương thực thuộc nhu cầu thiết yếu, cơ bản số một của toàn xã hội. Lương thực, đặc biệt là thóc, gạo là nguồn thực phẩm chính cung cấp hơn một nửa nhu cầu năng lượng cho con người. Hơn nữa, các hạt lương thực còn cung cấp cho chúng ta protein, vitamin và một số loại khoáng chất. Trong bữa ăn hàng ngày, lương thực được tiêu thụ với tỷ lệ cao nhất so với tất cả các loại thực phẩm khác, khoảng 2/3 khối lượng thức ăn, vậy nên có thể nói lương thực là mặt hàng nhận được sự ưu tiên hàng đầu của các quốc gia, các chính sách, kế hoạch về lương thực là những chủ đề nóng hổi trên thế giới [4].
Gạo là một thực phẩm chủ yếu trong các bữa ăn của gia đình Châu Á, gạo có thể làm rất nhiều món, và rất nhiều cách chế biến khác nhau như làm bún, phở, bánh đa… Với vị trí có tầm ảnh hưởng lớn như vậy nhưng sản xuất lương thực vẫn còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai. Nước ta sản xuất nông nghiệp thủ công, lại trong vùng khí hậu nhiệt đới, bão lũ, mất mùa thường xuyên xảy ra. Nên lương thực vẫn trong tình trạng dù thu hoạch được vẫn còn ngày giáp hạt, khan hiếm lương thực, giá tăng cao. Bảo quản lương thực là công tác quan trọng nhất sau thu hoạch, góp phần đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.
Trong những năm vừa qua, Ngành Dự trữ quốc gia đã bảo quản hàng triệu tấn lương thực an toàn về chất lượng, số lượng đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân, xuất hàng cứu trợ do thiên tai hạn hán, bình ổn thị trường và đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Từ những năm đầu thập kỷ 80, ở một số nước trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng công nghệ bảo quản kín để hạn chế tác động xấu của oxy trong không khí đến lương thực trong quá trình bảo quản [16]. Bảo quản kín có nhiều phương thức khác nhau: bảo quản trong môi trường chân không, môi trường khí N2, môi trường khí CO2…. Việc bảo quản lương thực dự trữ quốc gia với số lượng lớn trong thời gian dài mà vẫn đảm bảo được giá trị thương phẩm là một đề tài khoa học cần được quan tâm nghiên cứu.
Trên cơ sở đó em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng khí Nitơ để bảo quản gạo trong điều kiện áp suất chân không tại Chi cục dự trữ Nhà nƣớc Kiến Hải” c 2 1. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu Sau khi học lý thuyết tại trường, sinh viên được thực hành, thực tập tại cơ sở Chi cục Dự trữ Nhà nước nhằm đạt mục đích và yêu cầu sau: 1. Mục đích của đề tài Khảo sát quy trình sử dụng khí N2 để bảo quản gạo trong điều kiện áp suất chân không và đánh giá sự biến đổi các chỉ tiêu vật lý, cảm quan, vi sinh vật, hóa sinh… của hạt gạo trong quá trình bảo quản. Yêu cầu - Rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Nắm chắc được quy trình kỹ thuật bảo quản lương thực, hàng hóa trong kho theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của ngành Dự trữ Nhà nước. - Biết cách phòng ngừa và xử lý có hiệu quả các sự cố xảy ra trong quá trình bảo quản gạo trong môi trường khí N2. - Khảo sát quy trình bảo quản gạo trong môi trường khí N2. Chi cục Dự trữ Nhà nƣớc Kiến Hải.
Sự hình thành Tổ chức dự trữ Nhà nƣớc Việt Nam - Dự trữ quốc gia là quá trình Nhà nước tổ chức tích luỹ một bộ phận của cải vật chất xã hội vào quỹ dự phòng chiến lược để sử dụng vào việc phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng và giữ vững an ninh chính trị khi xảy ra biến động; góp phần ổn định chính trị, kinh tế và đời sống dân cư cũng như các nhiệm vụ khác của Nhà nước. - Chính từ ý nghĩa, vai trò to lớn của dự trữ quốc gia “Tích cốc phòng cơ” mà ngay từ khi lập nước, ông cha ta đã chú trọng đến việc dự trữ lương thực để phòng ngừa thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Kế tục truyền thống đó, từ sau cách mạng tháng Tám 1945, Đảng, Bác Hồ và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm đến việc tổ chức lực lượng dự trữ, chuẩn bị lực lượng hậu cần hùng hậu để phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta. - Sau năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại trên nửa đất nước, toàn Đảng, toàn dân ta phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải c 3 phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 9 năm 1955, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã họp, ra Nghị quyết có tính cấp bách và mang ý nghĩa lịch sử đối với hệ thống Dự trữ quốc gia là: “Phải xây dựng được một lực lượng dự trữ hùng hậu để ứng phó với mọi tình huống bất trắc xảy ra”. - Để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 13-01-1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 663/TTg, về tổ chức lực lượng dự trữ vật tư của quốc gia, với danh mục 27 loại hàng hoá thiết yếu; đồng thời Thủ tướng Chính phủ tạm giao cho Uỷ ban Kế hoạch quốc gia theo dõi, đôn đốc hoạt động dự trữ này và giao cho các Bộ: Công nghiệp, Thương nghiệp, Quốc phòng, Y tế trực tiếp bảo quản 27 loại hàng dự trữ quốc gia nói trên; chỉ được xuất kho theo lệnh của Thủ tướng Chính phủ. - Để thống nhất tổ chức bộ máy quản lý lực lượng dự trữ quốc gia, ngày 07-8- 1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 997/TTG, về việc thành lập Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước, trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Tổ chức bộ máy của Cục Quản lý dự trữ vật tư Nhà nước lúc đó gồm 04 phòng và hệ thống các kho dự trữ vật tư của Nhà nước trên các địa bàn quan trọng từ Vĩnh Linh trở ra.
Để triển khai nhiệm vụ thống nhất quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia và trực tiếp giữ gìn, bảo quản các loại hàng hoá dự trữ, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập 18 Ban Đại diện Vật tư dự trữ trực thuộc Cục, trực tiếp quản lý các kho dự trữ, đặt tại 18 tỉnh từ Quảng Bình trở ra. - Như vậy, với Nghị định 997/TTG ngày 07-8-1956, hệ thống tổ chức quản lý Dự trữ quốc gia của nước ta đã chính thức hoạt động độc lập; với chức năng, nhiệm vụ và vị trí của một tổ chức chuyên ngành trong nền kinh tế. Đây là tổ chức tiền thân của Tổng cục Dự trữ Nhà nước ngày nay. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 07 tháng 8 hàng năm là “Ngày Truyền thống của ngành Dự trữ Nhà nước” (Quyết định số 1371/QĐ-TTG ngày 06 tháng 8 năm 2010).
- Do đặc điểm và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, tổ chức và hoạt động của ngành Dự trữ Nhà nước đã có nhiều thay đổi. Nhưng dù ở thời kỳ nào, hoàn cảnh nào, ngành Dự trữ Nhà nước cũng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó, được nhân dân tin yêu. Hoạt động của ngành c 4 Dự trữ Nhà nước trong hơn nửa thế kỷ qua đã góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo trong đấu tranh chống xâm lược cũng như trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tìm hiểu chung về Cục Dự trữ Nhà nƣớc khu vực Thái Bình và Chi cục Dự trữ Nhà nƣớc Kiến Hải.
Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thái Bình Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thái Bình là tổ chức trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước có chức năng trực tiếp quản lý hàng dự trữ nhà nước và thực hiện quản lý nhà nước các hoạt động dự trữ nhà nước trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý. Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thái Bình có tư cách pháp nhân; có trụ sở; có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật. Được giao nhiệm vụ quản lý hàng dự trữ quốc gia trên tỉnh Thái Bình theo địa bàn hành chính. Các tổ chức giúp việc Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thái Bình gồm: a) Phòng Kế hoạch và Quản lý hàng dự trữ; b) Phòng Kỹ thuật bảo quản; c) Phòng Tài chính kế toán; d) Phòng Tổ chức hành chính; e) Phòng Thanh tra.
Các Chi cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Thái Bình: 1. Chi cục Dự trữ Nhà nước Quỳnh Phụ 2. Chi cục Dự trữ Nhà nước Kiến Hải 3. Chi cục Dự trữ Nhà nước Hưng Hà 4.
Chi cục Dự trữ Nhà nước Đông Hưng 5. Chi cục Dự trữ Nhà nước Vũ Thư Chi cục Dự trữ Nhà nước Kiến Hải - Nằm tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. - Chi cục Dự trữ nhà nước Kiến Hải có 4 dãy kho cuốn, tổng tích lượng là 4000 tấn. - Các đối tượng được bảo quản tại Chi cục Dự trữ nhà nước Kiến Hải gồm có: Thóc, gạo, phao cứu sinh, nhà bạt.
c 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, phân loại gạo.1 Nguồn gốc Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu. Trên thế giới có hai loại lúa trồng được xác định từ thời cổ đại cho đến ngày nay.
Đó là loại lúa Châu Á (Oryza satavia) và loại lúa trồng Châu Phi (Oryza glaberima) [3]. Loại lúa trồng Châu Phi đã được xác định nguồn gốc ở vùng thung lũng thượng nguồn sông Niger (ngày nay thuộc Mali). Loại lúa trồng Châu Á có nguồn gốc đầu tiên ở đâu vẫn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học trên thế giới và ngày càng sáng tỏ với những khai quật khảo cổ học có tính đột phá.H cây lúa xuất phát từ Đông Nam Á, từ đó lan dần lên phía Bắc. Gutchtchin, Ghose, Erughin và nhiều tác giả khác thì cho rằng Ấn Độ mới là nơi xuất phát chính của lúa trồng.
Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả ở nhiều nước đã thấy nguồn gốc cây lúa là ở vùng đầm lầy Đông Nam Á, có thể thuộc nhiều nước khác nhau.