CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả 1. Khái niệm quyền tác giả Theo dòng phát triển pháp luật của các quốc gia trên thế giới về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, thuật ngữ quyền tác giả ngày càng được nhìn nhận dưới góc độ rộng hơn về bản chất và giới hạn bảo hộ, đồng thời xác định rõ và cụ thể hơn hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền tác giả và ghi nhận ngày càng nhiều những biện pháp hữu hiệu hơn để bảo hộ sản phẩm trí tuệ của tác giả khỏi hành vi xâm phạm này. Mặc dù hệ thống pháp luật giữa các quốc gia là khác nhau dẫn đến việc mỗi nơi có cách định nghĩa riêng về quyền tác giả, tuy nhiên, về ghi nhận chung thì quyền tác giả được biết đến như một loại quyền chính đáng của những người sáng tạo, những người tham gia vào hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học.
Theo từ điển Tiếng Việt, Tác giả là người sáng tác một TP văn học, nghệ thuật, hoặc khoa học 1. Như vậy tác giả là người sáng tạo ra các TP viết như sách, kịch, thơ,.Nói chính xác hơn, tác giả là người đã tạo ra hoặc ban sự sống cho một thứ gì đó và có trách nhiệm đối với thứ đó hay nói cách khác đó là QTG. Trong pháp luật quốc tế, khái niệm về QTG đã quy định những trường hợp đồng ý hoặc không đồng ý cho phép người khác sử dụng TP, phổ biến TP của tác giả. Hệ thống pháp luật dân sự đã bảo vệ các quyền vốn có của tác giả.
Theo dòng lịch sử nước ta, khái niệm về QTG cũng được biết đến từ đầu thập niên 40 của TK XX, QTG được xem là quyền quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhằm tạo nên những TP mang giá trị tinh thần cũng như phục vụ cho sự nghiệp dựng và giữ nước ngày càng phát triển trong mọi lĩnh vực.2 Pháp luật Việt Nam cũng đã xây dựng và dần hoàn thiện để quy định đầy đủ hơn về lĩnh vực quyền tác giả. Chế định quyền tác giả được ghi nhận trong các 1 Lưu Văn Hy (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Niên, tr.908 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017). “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ”, NXB Công an Nhân dân, Tr.33 10 văn bản thuộc hệ thống pháp luật như hiến pháp, bộ luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật có liên quan khác. Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT định nghĩa “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra”.
Căn cứ theo các quy định của pháp luật về QTG thì QTG có thể được hiểu theo hai phương diện: (i) Phương diện khách quan: QTG là tổng hợp các quy phạm PL về QTG nhằm xác định và bảo vệ quyền của tác giả, cùa chủ sở hữu QTG, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các TP văn học, nghệ thuật, khoa học. Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm; (ii) Phương diện chủ quan: QTG là quyền dân sự cụ thể (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu QTG đối với TP văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm. 3 Hay nói cách khác QTG còn được hiểu là quyền tinh thần và quyền độc quyền về kinh tế được pháp luật trao cho người sáng tạo ra TP và những tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sáng tạo với sự hỗ trợ của kỹ thuật và công nghệ, để truyền tải TP thuộc QTG đến công chúng. QTG là quyền riêng tư và thiêng liêng của tổ chức, cá nhân bằng sức lực của mình để tạo các ra TP có giá trị và được pháp luật bảo hộ.
Những tổ chức, cá nhân có QTG, quyền liên quan phải tự quản lý quyền của mình, khai thác nó để thu lại các khoản tài chính đã đầu tư, đồng thời đầu tư sáng tạo tiếp. Như vậy QTG, quyền liên quan là các quy định pháp luật liên quan đến sáng tạo, đến các quyền và thực thi QTG, các quyền liên quan.4 Như đã phân tích trên, QTG là quyền của chủ thể đối với các tác phẩm sáng tạo trí tuệ của mình. Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, lĩnh vực 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017). “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ”, NXB Công an Nhân dân, Tr.34 4 Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2019).
“Giáo trình Quyền tác giả, Quyền liên quan trong hoạt động xuất bản”, NXB Thông tin và Truyền thông, Tr.9 11 này cũng hay diễn ra những tranh chấp, vậy nên, việc phát sinh nhu cầu bảo hộ quyền hợp pháp của các chủ thể là điều tất yếu và có thể được khái quát rằng bảo hộ QTG là toàn bộ các quy định của pháp luật nhằm công nhận quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan và từ đó đặt ra các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật thừa nhận. Việc xử lý hành vi xâm phạm QTG sẽ được thực hiện tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm. Nói theo cách khác QTG cho phép tác giả, chủ sở hữu QTG độc quyền khai thác, sử dụng TP văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Về bản chất, QTG là quyền chỉ dành riêng cho người sáng tạo TP.
Nghĩa là, QTG được xác định trong một phạm vi và thời hạn nhất định. Đó là quyền ngăn cấm người thứ ba khai thác, sử dụng TP được bảo hộ. Từ khái niệm QTG, ta có thấy rằng QTG được xem như một quan hệ pháp luật dân sự, và được bảo hộ theo các quy định của Pháp luật Dân sự. Như vậy Nhà nước không bảo hộ những TP có nội dung trái PL, đạo đức xã hội, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng.
Đặc điểm của quyền tác giả Quyền tác giả được hiểu là quyền sở hữu đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Là một bộ phận của quyền SHTT, QTG được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật. Những đặc điểm của QTG được thể hiện ở các khía cạnh sau: Về đối tượng: Quyền SHTT là một lĩnh vực sở hữu đặc thù có đối tượng là các tài sản vô hình (tài sản phi vật thể) hình thành từ hoạt động sáng tạo của con Sự khác biệt lớn nhất giữa hai loại sở hữu nói trên thể hiện ở chính đối tượng sở hữu. Nếu như đối tượng của sở hữu tài sản thông thường là các tài sản vật chất, hữu hình có thể tiếp cận về cơ học được, thì đối tượng của SHTT là các tài sản vô hình, phi vật thể.
Pháp Luật chỉ bảo hộ QTG khi các ý tưởng, sáng được thể hiện qua một hình thức nhất định như: Tác phẩm viết, 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017). “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ”, NXB Công an Nhân dân, Tr.34 12 tác phẩm hội họa, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh.Bên cạnh đó tài sản trí tuệ lại có khả năng bị xâm phạm hơn những tài sản hữu hình khác, có khả năng lan truyền rộng lớn đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay. Môi trường kỹ thuật số đã thay đổi phương thức thể hiện tác phẩm dưới dạng số hóa, với những ưu điểm vượt trội so với các hình thức thể hiện tác phẩm thông thường. Tuy nhiện đây cụng là một trường tiềm tang nhiều khả năng xảy ra hành vi xâm phạm QTG vì đây là một phương tiện thuận tiện cho việc sao chép, phân phối bất hợp pháp tác phẩm.
Về phạm vi quyền: Mặc dù quyền sở hữu nói chung mang bản chất là quyền tài sản, nhưng đối với quyền SHTT, trong đó có QTG, bên cạnh việc bảo vệ các quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG, pháp luật cũng ghi nhận cả các quyền nhân thân cho chủ thể sáng tạo. Tác phẩm khác với các tài sản thông thường, nó là một sáng tạo tinh thần thể hiện nhân cách và kết quả lao động sáng tạo tinh thần của tác giả. Vì vậy, trước hết, tác giả có quyền đối với đứa con tinh thần của mình như đặt tên tác phẩm; quyền được công nhận tên tuổi (quyền về nhân thân) hay công bố tác phẩm ở đâu, như thế nào, cùng với việc được hưởng các lợi ích kinh tế khi tác phẩm được khai thác. Về nội dung quyền: Do bản chất đối tượng SHTT là tài sản vô hình, nên việc nắm giữ, quản lý nó không thể thực hiện được như các tài sản thông thường.
Vì vậy, QTG cũng giống như quyền SHTT nói chung, về bản chất chỉ tập trung vào độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm là chủ yếu. Về giới hạn quyền: Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền SHTT, trong đó có QTG là loại quyền được bảo hộ có tính “giới hạn”. Bảo hộ QTG có mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy phát triển văn hóa, nghệ thuật bằng cách dành cho tác giả, chủ sở hữu chủ sở hữu độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm trong một thời hạn. Tuy nhiên, QTG không được cản trở hay gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và sự phát triển của xã hội.
Nguyên tắc cân bằng lợi ích là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong các quy định về bảo hộ quyền SHTT cũng như QTG nhằm dung hòa lợi ích của chủ thể của QTG với lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của 13 chủ thể khác. Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh 1. Khái niệm Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Tính đến nay, điện ảnh đã có hơn 100 năm tuổi. Sự ra đời của điện ảnh đã làm cho nghệ thuật biến động và khởi sắc, nó tác động to lớn đến đời sống nhân loại.
Người ta không khỏi bất ngờ trước nó, nhưng điện ảnh là gì thì chưa có một khái niệm chính thức nào. Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “điện ảnh” được hiểu là việc “nghệ thuật thể hiện hiện thực bằng hình ảnh, được thu hình và phát lên màn ảnh” 6.