CHƯƠNG I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC 1. Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả 1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả 1. Khái niệm quyền tác giả Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Theo nghĩa rộng : Quyền tác giả là một chế định pháp luật, là tổng thể các quy phạm pháp luật xác định và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, quy định việc bảo vệ, khôi phục các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Theo nghĩa hẹp: Quyền tác giả bao gồm tổng thế các quyền của tác giả đối với tác phẩm mà mình đã sáng tạo ra. Như vậy, quyền tác giả bao gồm những quyền mà pháp luật trao cho chủ sở hữu của tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên (thật hoặc bút danh) trên tác phẩm,….
Tác giả hoặc chủ sở hữu có quyền điều chỉnh hay truyền tải và phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm được sáng tác. Quyền này được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần của tác giả (hay còn gọi là tác phẩm) không bị vi phạm quyền tác giả. Ví dụ: các bài viết về văn học hay khoa học, sáng tác nhạc, tranh vẽ, điện ảnh, các chương trình truyền thông,…. Quyền này bảo vệ quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu.
Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào như văn bản, ghi âm, tranh vẽ, hình ảnh,… Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ "quyền tác giả" thường được gọi là "bản quyền," và không có sự khác biệt đáng kể giữa hai thuật ngữ này. Mặc dù cả hai đều 7 Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng là khái niệm dùng để chỉ các quyền của tác giả và chủ sở hữu đối với tác phẩm. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật chính thức của Việt Nam như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, thuật ngữ "quyền tác giả" là thuật ngữ chính thức được sử dụng. Trên thế giới hiện nay, mặc dù các pháp luật về quyền tác giả của các quốc gia tương đối tương đồng, bao gồm các quy định về đối tượng bảo hộ quyền tác giả, các quyền của tác giả và chủ sở hữu đối với tác phẩm, thời hạn bảo hộ quyền tác giả,.
nhưng có những nước sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" (author's right) như Pháp, và một số nước khác như Anh, Mỹ sử dụng thuật ngữ "bản quyền" (copyright). Việc sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" và thuật ngữ "bản quyền" có sự khác biệt cơ bản về cơ sở hình thành, liên quan đến sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (ví dụ như Pháp) sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm, tập trung vào việc bảo hộ quyền của tác giả, đặc biệt là các quyền tinh thần của người sáng tạo tác phẩm. Các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ sử dụng thuật ngữ "bản quyền" xuất phát từ khía cạnh thương mại, nhấn mạnh quyền sao chép, nhân bản tác phẩm, tập trung vào giá trị kinh tế của tác phẩm, chứ không phải quan tâm đến quyền tinh thần của tác giả.
Do vậy, có thể hiểu một cách đơn giản quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 19 và Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ 2005). Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật. Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các loại hình tác phẩm được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm khác, bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian,. Về mặt pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định điều chỉnh quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
8 Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng 1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả Trong các văn bản pháp luật hiện nay không có quy định nào nêu rõ định nghĩa về bảo hộ quyền tác giả nhưng chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Bảo hộ quyền tác giả là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận quyền tác giả của người sáng tạo ra tác phẩm, với việc ghi nhận bằng văn bằng bảo hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được pháp luật bảo vệ, các chủ thể khác nếu có hành vi xâm phạm quyền tác giả sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Hay có thể hiểu bảo hộ quyền tác giả là tổng hợp chế định pháp lý nhằm bảo hộ bằng pháp luật quyền, lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Bảo hộ quyền tác giả đóng vai trò rất quan trọng trong thực tiễn hiện nay.
Nó bảo vệ thành quả sáng tạo, nỗ lực tạo ra sản phẩm của cá nhân, tổ chức, từ đó thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực. Không những thế, nó còn đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, làm giàu di sản văn hóa quốc gia. Không thể phủ nhận hoạt động sáng tạo của người dân đóng góp rất lớn và sự phát triển của một đất nước, bởi vậy việc khuyến khích sáng tạo là điều tất yếu trong quá trình phát triển. Việc bảo hộ quyền tác giả còn tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường, giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Thông qua đó, có thể thấy được bảo hộ quyền tác giả là một hoạt động tiêu biểu nhằm tôn vinh, khen thưởng bảo vệ cho thành quả của người sáng tạo ra tác phẩm; bên cạnh đó còn tạo ra môi trường văn minh, công bằng giúp cho các tổ chức, cá nhân có thể tự do sáng tạo, cống hiến trí tuệ của mình cho nhân loại nhằm giúp tạo động lực, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học 1. Khái niệm tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là một khái niệm phong phú và đa chiều, có thể được hiểu và đánh giá từ hai khía cạnh là pháp lý và văn học. Xét về mặt pháp lý thì tác phẩm văn học, nghệ thuật được giải thích tại khoản 1 Điều 3 quy đinh về giải thích từ ngữ ở Nghị định 90/2014/NĐ-CP như sau: “Tác 9 Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng phẩm văn học, nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.” Xét về mặt văn học thì tác phẩm văn học là công trình sáng tạo của nhà văn, sử dụng phương tiện là ngôn từ, hình tượng nghệ thuật để gửi gắm thông điệp về con người và cuộc sống.
Sự sáng tạo này thể hiện qua việc sử dụng ngôn từ và hình tượng nghệ thuật để xây dựng nên các thể loại và đề tài văn học đa dạng. Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới phương diện là ngôn bản truyền miệng hoặc hình thức văn bản được ghi lại bằng văn tự cụ thể; có thể được tạo thành bằng văn vần (và thơ) hoặc văn xuôi; và được xếp vào các thể loại nhất định (như tự sự, trữ tình, kịch, nhật ký, ký, tùy bút) hay một thể loại văn học nhất định (như hài kịch, bi kịch, thơ trào phúng, thơ tự do, truyện tiếu lâm, truyện ngắn, tiểu thuyết,. Mỗi tác phẩm là một hệ thống phức tạp, được tạo ra từ sự kết hợp và tương tác giữa hàng loạt các yếu tố thuộc những bình diện khác nhau như đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, hình tượng, cốt truyện. Sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, một đỉnh cao của văn học, mang tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật.
Như vậy, có thể hiểu tác phẩm văn học là một thành tựu sáng tạo trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật, được tạo ra bởi các nhà văn thông qua việc sử dụng ngôn từ và hình tượng nghệ thuật để thể hiện ý nghĩa về con người, xã hội, và cuộc sống. Tác phẩm văn học được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào có thể bao gồm các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, kịch, và các dạng khác được thể hiện dưới dạng văn bản, bút ký, ghi âm, ghi hình,… mỗi thể loại mang đặc điểm và mục đích riêng. Tác phẩm văn học không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một phương tiện để truyền đạt ý nghĩa, giáo dục, và gây cảm nhận cho độc giả. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học Theo Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi là bổ sung năm 2009 và 2019: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” 10 Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng Như vậy, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận và bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học.