Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “quyền công dân” Nói đến quyền công dân không thể không nói đến quyền con người. Bởi lẽ, quyền công dân là một bộ phận quan trọng nhất của quyền con người.
“Quyền con người là những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vèn có của con người được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc tế và quốc gia. Quyền con người là quyền của tất cả mọi người” (xem 10, tr. Trong pháp luật quốc gia, quyền con người rộng hơn quyền công dân. Về chủ thể, quyền con người của tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch, năng lực, hành vi dân sự cũng như năng lực pháp luật.
Phạm vi và đối tượng điều chỉnh quyền con người là những quy định mối quan hệ pháp lý giữa mỗi người với nhà nước, đồng thời xác định mối quan hệ giữa con người đối với nhau trong xã hội. Chế định quyền con người cho phép người ta làm mọi cái mà pháp luật không cấm. Quyền công dân, xét về chủ thể, được quy định bởi chế định quốc tịch và bị hạn chế bởi những quy định pháp luật khác nhau (tình trạng pháp lý, tuổi đời, sức khoẻ ở mỗi người. Về phạm vi và đối tượng điều chỉnh được quy định trong khuôn khổ mối quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nước.
Trong mỗi quốc gia, quyền công dân là nội dung cơ bản và là sự thể hiện của quyền con người. Nói cách khác, quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ xã hội – chính trị nhất định với một nền pháp luật cụ thể do Nhà nước đó thừa nhận, quy định. 17 Khái niệm quyền công dân được thể hiện d−íi gãc ®é khoa học, luật học. Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Quyền công dân là quyền của người công dân, bao gồm những quyền tự do dân chủ và các quyền lợi cơ bản về kinh tế, văn hoá, xã hội.
được Hiến pháp công nhận” (xem 50, tr. Trong cuốn Từ điển Luật học, quyền công dân lại được định nghĩa: “Quyền công dân là quyền cơ bản mà Hiến pháp của mỗi nước quy định cho công dân và người mang quốc tịch nước mình” (xem 49, tr. Khái quát các khái niệm nêu trên, theo quan niệm của một luật gia, quyền công dân được hiểu như sau: “Quyền công dân là quyền con người, là những giá trị gắn liền với một Nhà nước nhất định và được Nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể” (xem 44, tr. Khái niệm “Quyền của người lao động” Nói đến quyền của người lao động, trước hết cần phải hiểu thế nào là người lao động? Trong Từ điển Kinh tế học có định nghĩa: “Người làm thuê hay người lao động là người được người khác hoặc doanh nghiệp thuê để cung cấp dịch vụ lao động với tư cách đầu vào - nhân tố trong quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ” (xem 41, tr.
Theo Điều 6 - Bộ Luật Lao động của Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2007, (xem 9), thì “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Như vậy, trong 3 điều kiện để trở thành người lao động, có hai điều kiện (độ tuổi, khả năng lao động) là thuộc về chủ thể lao động, điều kiện còn lại (các giao kết hợp đồng lao động) không chỉ phụ thuộc vào người lao động mà chủ yếu phụ thuộc vào khách 18 thể là người sử dụng lao động - người cùng với người lao động giao kết hợp đồng lao động. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã ban hành Luật lao động quốc tế bao gồm 187 Công ước, Hiệp định thư Quốc tế về quyền lao động. Dưới đây là 20 quyền chính: ● Quyền công đoàn độc lập: Chúng ta có quyền công đoàn độc lập và gia nhập, ứng cử, và bầu cử.
Nhà nước không được can thiệp. Không ai được quyền đuổi chúng ta chỉ vì ta là thành viên công đoàn hoặc hoạt động cho công đoàn, hoặc cho việc với điều kiện không vào công đoàn. Chúng ta có quyền dùng công đoàn của mình để thương lượng tập thể với chủ nhân về lương bổng và điều kiện làm việc, thay vì mỗi người lao động thương lượng với chủ. ● Quyền không bị ép làm việc không lương Không ai được quyền ép chúng ta làm việc không lương.
Nhà nước có bổn phận ngăn chặn và nghiêm trị. ● Quyền nam nữ hưởng lương bằng nhau Nam và nữ làm việc giống nhau, phải được lương giống nhau. ● Quyền không bị phân biệt đối xử Không ai có quyền phân biệt đối xử với chúng ta vì giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị, thành phần xã hội, hay chủng tộc. ● Quyền không bị phân biệt đối xử nếu có con cái Không ai có quyền phân biệt đối xử vì chúng ta có con nhỏ.
Ngoài ra, khi có điều kiện, chủ nhân nên thu xếp việc làm để ta có thể quân bình giữa bổn phận làm cha mẹ và bổn phận lao động. ● Quyền được giúp đỡ và có việc làm thích hợp nếu bệnh tật Nếu bị thương, hay bị bệnh, chúng ta có quyền được giúp đỡ để phục hồi sức khoẻ, và được làm loại việc phù hợp với khả năng. 19 ● Quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn lương Chúng ta có quyền được ăn lương khi đang huấn nghệ hay tham dự các khoá học liên quan đến công đoàn, ngành nghề, hay nhu cầu chung của con người. ● Quyền không bị đuổi việc Chúng ta có quyền không bị đuổi việc phi lý, thí dụ như vì là thành viên hay hoạt động cho công đoàn độc lập; nộp đơn kiện chủ; làm nhân chứng để kiện chủ; nghỉ để sinh con và nuôi con nhỏ; hay vì những lý do liên quan đến quan điểm chính trị, niềm tin tôn giáo, giới tính, tình trạng hôn nhân; v.
● Quyền được trả lương bằng tiền Chúng ta có quyền được trả lương bằng tiền chứ không bằng những hình thức khác như thực phẩm, phiếu để đổi lấy đồ, v. ● Quyền hưởng lương trên hoặc bằng mức tối thiểu Chúng ta có quyền được hưởng lương bằng hoặc trên mức tối thiểu. Khi quy định mức lương tối thiểu, nhà nước phải xem xét đến nhiều yếu tố, trong đó có nhu cầu sống còn của người lao động. ● Quyền được trả lương nếu chủ sử dụng lao động bị phá sản Nếu chủ nhân dẹp tiệm vì thua lỗ hay lừa gạt, chúng ta có quyền được trả ít nhất 3 tháng lương sau khi bán tài sản của chủ để lại.
Nếu chủ nhân không chỉ nợ nhân viên mà còn nợ người khác, thì nhân viên được ưu tiên cao hơn. ● Quyền được nghỉ ít nhất nguyên 1 ngày mỗi tuần Chúng ta có quyền được nghỉ ít nhất 24 tiếng đồng hồ liên tục trong mỗi 7 ngày. ● Quyền được quyền lợi tương đương, nếu làm việc bán thời Nếu làm việc bán thời (tức là ít hơn 40 tiếng/tuần), ta phải được quyền tương đương với người làm việc toàn thời, như: quyền có cùng mức lương mỗi tiếng; quyền tham gia hay hoạt động cho công đoàn độc lập; quyền về 20 sức khoẻ và an toàn thân thể; quyền được một số ngày nghỉ mỗi năm; quyền không bị đuổi việc phi lý, v.v… ● Quyền làm không quá 40 tiếng/tuần Chúng ta có quyền có tuần làm việc căn bản là 40 tiếng. Nếu làm thêm thì mức lương mỗi tiếng phải cao hơn.
● Quyền nếu làm ca đêm Nếu làm ca đêm, chúng ta có quyền được ăn mức lương mỗi tiếng cao hơn, được chăm lo về sức khoẻ và an toàn (nhất là phụ nữ có thai), và được cơ hội lên chức. ● Quyền an toàn lao động Chủ nhân phải ngăn ngừa nguy hiểm cho chúng ta từ chất hoá học, ô nhiễm không khí, tiếng động quá ồn, máy móc quá rung, những gì gây ra ung thư, chất phế thải, hoặc nơi làm việc quá bẩn. ● Quyền được bồi thường nếu có tai nạn Chúng ta (hoặc thân nhân còn sống) có quyền được bồi thường thoả đáng nếu tai nạn nơi làm việc gây thương tật hoặc làm thiệt mạng, dù lỗi của bất cứ ai. ● Quyền được nghỉ khi bị bệnh và chữa bệnh Chúng ta có quyền được một số ngày nghỉ trong năm để nghỉ nếu bị bÖnh.
Chúng ta có quyền đóng bảo hiểm để được chữa bÖnh. ● Quyền phụ nữ mang thai hoặc cho con bú sữa mẹ Nếu là phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú sữa mẹ, chúng ta có quyền được làm loại việc thích hợp không nguy hại cho mẹ con. ● Quyền của lao động xuất khẩu Nếu chúng ta xuất ngoại để lao động, nhà nước có bổn phận phải cung cấp cho chúng ta đầy đủ tin tức dữ kiện để không bị lừa gạt. Người lao động trước hết là người công dân.
Do đó, họ có quyền công dân theo pháp luật quốc gia quy định. Hoạt động chủ yếu của ng−êi lao ®éng 21 là lao động nên quyền trực tiếp nhất và cụ thể nhất đối với họ là quyền được pháp luật quy định trong lĩnh vực lao động. Quyền được có tiếng nói tham gia vào công việc phát triển đơn vị, cơ sở, bộ phận. nơi mình đang lao động thông qua công đoàn, quản đốc hoặc cá nhân có ý kiến.
Đây chính là quyền rất mới của người lao động hiện đại ngày nay, khác hẳn với trước đây. Khái niệm “Khu công nghiệp”: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất, chuyển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn là vấn đề có tính quy luật chung của nhiều nước hiện nay trên thế giới. Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh nền kinh tế thế giới ở vào giai đoạn toàn cầu hoá. Hoàn cảnh ấy đã đem đến cho nước ta những cơ hội to lớn, đồng thời cũng đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ.
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp là một trong các phương thức để rút ngắn, đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghịêp hoá, hiện đại hoá – con đường mà Đảng ta đã lựa chọn. Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, vai trò, hiệu quả kinh tế trong việc xây dựng và phát triển khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định rõ trong các văn kiện quan trọng về đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.