Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của xã hội hiện đại, quyền con người ngày càng được khẳng định là giá trị cốt lõi mà các quốc gia đều hướng tới bảo vệ và thúc đẩy. Cùng với sự phát triển về kinh tế, chính trị và văn hóa, nhận thức lý luận và thực tiễn về quyền của các nhóm thiểu số, nhóm yếu thế trong xã hội—trong đó có cộng đồng người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính (LGBT+)—ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc. Người chuyển giới (NCG) là một bộ phận dân số hiện hữu khách quan, có nhu cầu tự nhiên và chính đáng được công nhận, sống đúng với bản dạng giới của mình. Tuy nhiên, do những rào cản từ định kiến xã hội, quan niệm truyền thống Á Đông về gia đình và duy trì nòi giống, NCG tại Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong học tập, việc làm, y tế và đời sống dân sự.

Về mặt pháp lý, Hiến pháp năm 2013 đã đặt nền móng quan trọng tại Điều 14 và Điều 16 khi khẳng định mọi quyền con người, quyền công dân đều được tôn trọng, bảo vệ và không ai bị phân biệt đối xử. Tiếp đó, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chính thức thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính (CĐGT). Mặc dù vậy, suốt nhiều năm qua, quy định này vẫn chưa thể đi vào cuộc sống do thiếu văn bản luật chuyên ngành quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục can thiệp y học và công nhận hộ tịch. Nhằm giải quyết khoảng trống pháp lý này, dự án Luật Chuyển đổi giới tính do Đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí chủ trì soạn thảo đang được tích cực xây dựng và hoàn thiện. Việc nghiên cứu bảo đảm quyền của NCG trong dự thảo luật là đòi hỏi cấp thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và hiện thực hóa cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền con người.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đưa ra những lập luận xác đáng, toàn diện và phù hợp cho hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của NCG trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích đó, khóa luận xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người chuyển giới; lý luận về quyền và pháp luật về quyền của người chuyển giới; các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng, thi hành pháp luật về quyền của các đối tượng này; xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia trên thế giới.
  2. Nghiên cứu thực tiễn pháp luật về quyền của người chuyển giới tại Việt Nam (thực trạng người chuyển giới, quy định pháp luật và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành) thông qua các quy định trong Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính hiện nay.
  3. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của người chuyển giới và góp phần thúc đẩy thi hành pháp luật trong thời gian tới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về người chuyển đổi giới tính, bảo đảm quyền của người chuyển đổi giới tính và thực tiễn thực thi việc bảo đảm quyền này trong Dự thảo Luật CĐGT.
  • Phạm vi nghiên cứu: Quyền của NCG trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tập trung trọng tâm vào Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính, đánh giá các quyền đặc thù đang bị hạn chế hoặc đã ghi nhận nhưng còn vướng mắc thực tiễn, có đối chiếu với chuẩn mực pháp luật quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý thuyết về quyền con người, quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử trong khoa học pháp lý. Khung lý luận dựa trên các văn kiện quốc tế tiêu biểu như: Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948), Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên bố về Xu hướng tính dục và quyền con người (2005), Tuyên bố chung về những vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (2006), Bộ quy tắc Yogyakarta (2007), cùng quyết định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 18/5/2019 đưa chuyển giới ra khỏi danh mục rối loạn tâm thần trong ICD-11 sang phân loại "Vấn đề sức khỏe liên quan đến giới tính" (Gender Incongruence). Ở cấp độ quốc gia, cơ sở pháp lý trực tiếp gồm: Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và các bản Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính.

Về phương pháp luận, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng nội dung:

Phương pháp nghiên cứu Phạm vi sử dụng chính Mục đích và nội dung thực hiện
Phân tích và tổng hợp Toàn bộ các chương của khóa luận Phát hiện, luận giải thuyết phục các quy định và cơ sở lý luận, thực tiễn liên quan đến quyền NCG.
Cấu trúc hệ thống Chương 2 và Chương 3 Nhận diện, đánh giá pháp luật về quyền NCG trong mối liên hệ đồng bộ với hệ thống pháp luật về quyền con người tại Việt Nam.
Luật học so sánh Chương 2 và Chương 3 So sánh, đối chiếu quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia (Hungary, Trung Quốc, Hàn Quốc...) để rút ra bài học kinh nghiệm.
Thống kê, phân tích số liệu Tất cả các chương Tập hợp, xử lý dữ liệu từ Báo cáo của Bộ Y tế (2017), số liệu tập huấn giới của Bộ LĐ-TB&XH và các khảo sát xã hội.
Phân tích tình huống thực tiễn Chương 2 và Chương 3 Làm rõ thực trạng, rào cản pháp lý trong thi hành và xử lý các xung đột quan hệ dân sự, hộ tịch, hôn nhân gia đình.
Lịch sử Chương 1 và Chương 2 Nhận diện sự biến đổi, phát triển trong nhận thức xã hội và tiến trình lập pháp về quyền NCG tại Việt Nam qua các thời kỳ.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tài liệu hội thảo khoa học của Viện Nghiên cứu Lập pháp, Viện iSEE, Trung tâm CSAGA, Tổ chức IT'S TIME và các báo cáo chuyên đề của Bộ Y tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát chung về bảo đảm quyền của người chuyển giới

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về NCG và cơ chế bảo đảm quyền trong quy trình xây dựng pháp luật:

  • Khái niệm và bản chất: Phân biệt rõ giữa "giới" (nhận thức, vai trò xã hội) và "giới tính sinh học" (đặc điểm sinh học bẩm sinh). NCG được xác định là người có bản dạng giới, mong muốn giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh ra, trong khi cơ thể không có khuyết tật về giới tính. Quyền của NCG vừa mang tính phổ quát của quyền con người (quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc), vừa có tính đặc thù (quyền tự quyết định thay đổi giới tính, tiếp cận dịch vụ can thiệp y học, thay đổi hộ tịch và được công nhận pháp lý).
  • Khái niệm bảo đảm quyền NCG trong dự thảo luật: Là hệ thống các tiền đề, điều kiện, công cụ kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý và tổ chức do Nhà nước thực hiện nhằm tạo điều kiện đầy đủ để NCG thực thi quyền của mình trên thực tế ngay từ khâu lập pháp.
  • Nội dung bảo đảm theo quy trình lập pháp: Tác giả phân tích sự bảo đảm xuyên suốt qua 04 giai đoạn:
    1. Lập đề nghị xây dựng luật: Lồng ghép vấn đề giới, tổ chức nghiên cứu khoa học, đánh giá tác động chính sách và thu hút sáng kiến lập pháp (theo Điều 33, 34 Luật Ban hành VBQPPL 2015).
    2. Soạn thảo dự án luật: Tổ chức tọa đàm, hội thảo, tham vấn cộng đồng NCG và chuyên gia y tế, pháp lý nhằm đảm bảo nội dung dự thảo sát với nhu cầu thực tiễn.
    3. Thẩm định, thẩm tra: Cơ quan có thẩm quyền (Bộ Tư pháp, các Ủy ban của Quốc hội) rà soát tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ và tính khả thi của các điều khoản đối với quyền NCG.
    4. Xem xét, thảo luận và thông qua: Tiếp thu phản biện xã hội, dư luận truyền thông và dự liệu các điều kiện kinh tế - kỹ thuật bảo đảm thi hành luật.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Bao gồm chủ trương, đường lối của Đảng (Đại hội XIII, Nghị quyết 27-NQ/TW); hệ thống văn bản pháp luật hiện hành; điều kiện kinh tế, văn hóa, định kiến xã hội; cùng chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ công tác xây dựng, thi hành chính sách.

Chương 2. Thực trạng bảo đảm quyền của người chuyển giới trong Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính

Chương 2 đi sâu phân tích thực tiễn quá trình xây dựng Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính, chỉ ra các kết quả đạt được cùng những vướng mắc tồn tại:

  • Những kết quả đạt được qua các giai đoạn:
    • Giai đoạn lập đề nghị: Ban soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã thống nhất 04 nhóm chính sách trọng tâm do ĐBQH Nguyễn Anh Trí đề xuất: (1) Điều kiện để công dân được CĐGT; (2) Thực hiện can thiệp y học để CĐGT; (3) Xác nhận giới tính cho người đã can thiệp y học trước ngày Luật có hiệu lực; (4) Thẩm quyền, thủ tục công nhận giới tính của người CĐGT.
    • Giai đoạn soạn thảo: Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 858/NQ-UBTVQH ngày 08/9/2023 thành lập Ban soạn thảo gồm ĐBQH Nguyễn Anh Trí làm Trưởng ban, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương làm Phó Trưởng ban cùng 15 ủy viên. Ban soạn thảo đã phối hợp với CSAGA, IT'S TIME tổ chức 03 tọa đàm tham vấn cộng đồng NCG tại 3 miền (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) và công khai dự thảo để lấy ý kiến rộng rãi.
    • Các quyền cụ thể được ghi nhận trong dự thảo:
      • Quyền và nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, đổi tên và thông tin trên thẻ Căn cước công dân, giấy khai sinh.
      • Quyền nhân thân đầy đủ phù hợp với giới tính mới theo quy định tại khoản 4 Điều 7 dự thảo.
      • Quyền tài sản: Bảo lưu quyền sở hữu đối với các tài sản đã tạo lập hợp pháp trước thời điểm CĐGT.
      • Quyền lựa chọn phương thức can thiệp y học: Bản dự thảo tháng 12/2023 tại Điều 9 đã quy định linh hoạt 05 hình thức can thiệp (sử dụng nội tiết tố; phẫu thuật ngực/cơ quan sinh dục; phẫu thuật cắt bỏ triệt để bộ phận sinh sản cũ; phối hợp phẫu thuật và nội tiết tố; các phương pháp khác theo quy định của Bộ Y tế), không bắt buộc phải phẫu thuật triệt sản hay phẫu thuật toàn bộ cơ quan sinh dục mới được công nhận.
  • Những hạn chế, bất cập còn tồn tại:
    • Vấn đề quan hệ cha - mẹ - con: Dự thảo chưa làm rõ tư cách pháp lý và cách thức ghi nhận thông tin hộ tịch của con cái khi cha hoặc mẹ CĐGT sau khi đã sinh con; phát sinh nguy cơ chồng chéo, xung đột quan hệ gia đình khi người chuyển giới ly hôn rồi tái hôn, gây ảnh hưởng tâm lý đối với trẻ em.
    • Rào cản kinh tế: Chi phí can thiệp y tế, phẫu thuật bộ phận sinh dục rất cao (từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng) tạo gánh nặng lớn cho NCG, trong khi chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính hay bảo hiểm y tế.
    • Vấn đề quản lý xã hội: Xung đột thực tiễn giữa các trường hợp chỉ điều trị hormone và trường hợp đã phẫu thuật trong việc sử dụng không gian công cộng (nhà tắm, nhà vệ sinh) hoặc giải quyết quan hệ hôn nhân.

Chương 3. Giải pháp bảo đảm quyền của người chuyển giới trong Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính

Trên cơ sở phân tích thực trạng, Chương 3 đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:

  • Kiến nghị hoàn thiện quy định trong Dự thảo Luật:
    • Quy định rõ ràng, cụ thể cơ chế chuyển tiếp và điều chỉnh thông tin hộ tịch trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ cha - mẹ - con đối với con sinh ra trước khi chuyển đổi giới tính nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trẻ em.
    • Hoàn thiện quy chuẩn, quy trình công nhận pháp lý đối với từng mức độ can thiệp y tế (can thiệp nội tiết tố hoặc can thiệp phẫu thuật), đảm bảo tính thống nhất với Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành.
    • Xác lập quy định minh bạch về bảo lưu và chuyển đổi thông tin sở hữu tài sản, giấy tờ giao dịch dân sự, tài khoản ngân hàng sau khi thay đổi hộ tịch.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm trên thực tế:
    • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng y khoa về phẫu thuật và điều trị nội tiết cho đội ngũ y bác sĩ; tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức về giới và bản dạng giới cho cán bộ tư pháp, hộ tịch, cán bộ xây dựng chính sách.
    • Nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật: Trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị y tế chuyên dụng, đủ điều kiện cấp phép cho các cơ sở y tế trong nước thực hiện can thiệp CĐGT an toàn, hợp pháp.
    • Tăng cường phối hợp liên ngành: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các tổ chức xã hội đại diện cộng đồng.
    • Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến: Tăng cường truyền thông đa phương tiện và giáo dục học đường nhằm xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử đối với NCG trong đời sống xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với tiến trình lập pháp của Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính:

  • Trích xuất và phân tích đầy đủ các cứ liệu pháp lý và số liệu thực tế: Nghị quyết 858/NQ-UBTVQH ngày 08/9/2023 về thành lập Ban soạn thảo; số liệu tập huấn kiến thức giới của Vụ Bình đẳng giới (năm 2021 đạt 1.796 người, năm 2022 đạt 983 người; kinh phí năm 2021 là 22.280 triệu đồng); 04 nhóm chính sách trọng tâm và 05 phương pháp can thiệp y học tại Điều 9 dự thảo tháng 12/2023.
  • Chỉ ra các nút thắt pháp lý quan trọng chưa được xử lý thấu đáo trong dự thảo, trọng tâm là vấn đề quan hệ nhân thân cha - mẹ - con hậu chuyển giới và khả năng chi trả kinh phí y tế của NCG.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 2 nhóm (hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và bảo đảm điều kiện thực thi) có tính khả thi, góp phần thúc đẩy việc thông qua Luật Chuyển đổi giới tính tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do đối tượng nghiên cứu là văn bản dự thảo luật đang trong quá trình xây dựng, chỉnh lý nên một số điều khoản, cấu trúc chương mục của dự thảo có thể tiếp tục thay đổi; phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào góc độ pháp lý và xây dựng văn bản, chưa khảo sát định lượng sâu về toàn bộ chi phí y tế thực tế tại các bệnh viện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động sau khi Luật Chuyển đổi giới tính được Quốc hội chính thức thông qua và ban hành; nghiên cứu cơ chế tài chính y tế (bảo hiểm y tế chi trả cho can thiệp CĐGT); hoàn thiện các quy định đồng bộ trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Lao động và Luật Thi hành án hình sự liên quan đến NCG.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ học tập và nghiên cứu:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật học, Xây dựng văn bản pháp luật, Quyền con người; các nhà lập pháp, thành viên ban soạn thảo dự án luật; các luật sư và cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Phân tích quy trình bảo đảm quyền NCG qua 4 giai đoạn lập pháp (Chương 1); luận giải 4 nhóm chính sách và 5 phương pháp can thiệp y học cùng các vướng mắc về quan hệ cha - mẹ - con (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa quyền của người chuyển giới như thế nào?
Quyền của người chuyển giới được xác định là một bộ phận của quyền con người, xuất phát từ các quyền tự nhiên (quyền được sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc) kết hợp với các quyền đặc thù: quyền tự quyết định thay đổi giới tính từ giới tính sinh học sang giới tính mong muốn, quyền tiếp cận các can thiệp y tế (nội tiết tố, phẫu thuật) và quyền được công nhận giới tính mới về mặt pháp lý, hộ tịch, văn hóa và xã hội.

2. Bốn nhóm chính sách trọng tâm trong hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính gồm những gì?
Bốn nhóm chính sách do ĐBQH Nguyễn Anh Trí đề xuất gồm: (1) Điều kiện để công dân được chuyển đổi giới tính; (2) Thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính của công dân; (3) Xác nhận giới tính đối với các trường hợp đã thực hiện can thiệp y học trước ngày Luật có hiệu lực; (4) Thẩm quyền và thủ tục công nhận giới tính của người chuyển đổi giới tính.

3. Bản Dự thảo Luật tháng 12/2023 quy định những phương pháp can thiệp y học nào tại Điều 9?
Điều 9 Dự thảo quy định 05 phương pháp: (1) Sử dụng nội tiết tố sinh dục; (2) Phẫu thuật ngực và cơ quan sinh dục; (3) Phẫu thuật cắt bỏ triệt để các bộ phận có chức năng sinh sản gắn với giới tính cũ; (4) Phối hợp phẫu thuật và sử dụng nội tiết tố sinh dục; (5) Các phương pháp khác để chuyển đổi giới tính được các nước trên thế giới công nhận và phù hợp với Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

4. Khóa luận đã chỉ ra rắc rối pháp lý cụ thể nào về quan hệ gia đình của người chuyển giới?
Khóa luận chỉ ra vướng mắc trong việc xác định tư cách pháp lý cha - con hoặc mẹ - con trên giấy tờ hộ tịch đối với trường hợp người chuyển giới đã sinh con trước khi chuyển đổi giới tính. Việc thay đổi thông tin giới tính trên giấy tờ hộ tịch từ nam sang nữ hoặc ngược lại làm phát sinh xung đột về cách gọi, quyền, nghĩa vụ và gây xáo trộn tâm lý cho con cái, đặc biệt khi người chuyển giới ly hôn rồi tái hôn.

5. Cơ cấu Ban soạn thảo dự án Luật Chuyển đổi giới tính theo Nghị quyết 858/NQ-UBTVQH gồm những ai?
Ban soạn thảo được thành lập theo Nghị quyết 858/NQ-UBTVQH ngày 08/9/2023 gồm Trưởng ban là ĐBQH Nguyễn Anh Trí, Phó Trưởng ban là Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương và 15 ủy viên đại diện các cơ quan như Viện Nghiên cứu Lập pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Thư đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của người chuyển giới trong quy trình xây dựng Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Công trình làm rõ sự cần thiết phải cụ thể hóa Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, đánh giá xác đáng 04 nhóm chính sách trọng tâm và 05 phương pháp can thiệp y học theo tinh thần nhân văn, tiến bộ. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quan hệ nhân thân, hộ tịch và giải pháp đồng bộ về nhân lực, cơ sở vật chất y tế là đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện dự án luật trong thời gian tới.