Chương 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU VÀ CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ 1. Khái quát về nghĩa vụ dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ trong luật tư được luật học chia thành ba loại căn cứ vào có hay không sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể của quan hệ nghĩa vụ. Ba loại đó bao gồm: nghĩa vụ dân sự (hay còn gọi là nghĩa vụ pháp lý); nghĩa vụ tự nhiên; và nghĩa vụ đạo đức.
Trong ba loại nghĩa vụ này chỉ có nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ tự nhiên là có thể có sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể của quan hệ nghĩa vụ. Nghĩa vụ dân sự là loại nghĩa vụ mà trong đó bên có nghĩa vụ bị bắt buộc phải thi hành theo yêu cầu của bên có quyền yêu cầu. Việc không thi hành có thể bị cưỡng chế bởi pháp luật. Nghĩa vụ tự nhiên là loại nghĩa vụ mà pháp luật không bắt buộc phải thi hành, nhưng nếu đã thi hành rồi thì bên thi hành đó không thể đòi lại, ví dụ trả một khoản nợ đã hết thời hiệu thi hành; trả khoản nợ phát sinh từ cơ bạc.
Do vậy chỉ có nghĩa vụ dân sự được điều chỉnh bởi chế định chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ vì không có “chủ thể có quyền yêu cầu” trong nghĩa vụ tự nhiên [6, tr. Các Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều đưa ra định nghĩa về nghĩa vụ dân sự nhưng chưa hoàn toàn phù hợp với pháp luật về nghĩa vụ dân sự vì ở đó chỉ nói tới nghĩa vụ theo nghĩa hẹp, trong khi khái niệm nghĩa vụ cần phải định nghĩa là nghĩa vụ theo nghĩa rộng chỉ mối quan hệ giữa hai bên chủ thể có quyền yêu cầu và có nghĩa vụ [6, tr. Hơn nữa định nghĩa khái niệm nghĩa vụ theo nghĩa hẹp là chỉ một bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ không phù hợp với việc quy định chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển 8 giao nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự vì mỗi đối tượng của chuyển giao này có các điều kiện chuyển giao khác nhau. Phân tích một quan hệ nghĩa vụ có thể thấy trong quan hệ này có hai chủ thể trái ngược nhau hoàn toàn về mặt lợi ích.
Một chủ thể có quyền yêu cầu để buộc chủ thể kia phải làm thỏa mãn quyền yêu cầu của mình. Còn chủ thể kia bị cưỡng bức làm thỏa mãn yêu cầu của chủ thể được nói trước. Chủ thể được nói trước còn được gọi là chủ nợ hoặc trái chủ. Còn chủ thể được nói sau còn được gọi là con nợ hoặc người thụ trái.
Quyền yêu cầu của chủ nợ là một yếu tố làm tăng thêm tài sản của chủ nợ. Còn việc thực hiện nghĩa vụ của con nợ là một yếu tố làm giảm tài sản của con nợ. Vì vậy xét về mặt tâm lý thông thường thì con nợ luôn không muốn thực hiện nghĩa vụ nếu không có chế tài đối với việc không thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ, không đúng theo quy định hoặc nếu không có lợi ích được đánh đổi như trong hợp đồng song vụ mà các bên đều có nghĩa vụ đối với bên kia, chẳng hạn trong hợp đồng mua bán: một bên (bên bán) có nghĩa vụ giao tài sản cho bên kia (bên mua), còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán. Vậy vì lợi ích nhận được khoản tiền nên phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản.
Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ nhiều khi không được suôn sẻ. Chính vì vậy việc chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ có những điều kiện pháp lý khác nhau. Từ đó nghĩa vụ dân sự cần được định nghĩa là một quan hệ pháp luật mà theo đó bên chủ nợ có quyền yêu cầu buộc bên con nợ phải thực hiện chuyển giao một tài sản, làm một công việc nào đấy hoặc không làm một công việc nào đấy theo quyền yêu cầu của chủ nợ. Để nói về mối quan hệ này, Bộ luật Dân sự Nhật Bản 2005 gọi nó là trái quyền (claims), tức là gọi một cái tên chỉ mối quan hệ ngược lại với tên gọi nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam, giống như sự trái ngược nhau giữa 9 người có quyền yêu cầu và người có nghĩa vụ, nhưng đều nhằm tới mô tả và quy định về mối quan hệ này.
Tuy nhiên Bộ luật Dân sự Nhật Bản lại không đưa ra một định nghĩa chính thức và đầy đủ nào về mối quan hệ này. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 của Việt Nam có định nghĩa tổng quát về nghĩa vụ trong Điều thứ 641 như sau: “Nghĩa vụ làm mối liên lạc về luật thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào đó. Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là người chủ nợ.” Định nghĩa này chưa thực sự mô tả đầy đủ về các đối tượng của nghĩa vụ và chưa nhắc tới quyền yêu cầu của chủ nợ. Tuy nhiên nó được giữ nguyên văn tại Điều thứ 676 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936.
Điều 650 của Bộ luật Dân sự 1972 của Việt Nam cộng hòa cũng vẫn theo nguyên văn đó nhưng chỉ lược bỏ thuật ngữ “luật thiên nhiên” ra khỏi định nghĩa, đồng thời sửa thuật ngữ “luật thực tế” thành “luật thực tại” có thể do nghĩa vụ tự nhiên không được xem là đối tượng của sự điều chỉnh của luật vì nó không bị cưỡng chế thi hành. Nhưng về mặt học thuật, Vũ Văn Mẫu vẫn đưa ra khái niệm tổng quát về nghĩa vụ có giá trị tham khảo cao như sau: “Nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là người phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền” [15, tr. Ở phía ngược lại, có những giải nghĩa quan hệ nghĩa vụ rõ hơn về trái quyền, do đó làm dễ hiểu hơn cho việc tiếp cận tới chuyển nhượng hay chuyển giao quyền yêu cầu, chẳng hạn có nhà khoa học nói về bản chất của nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản là “quyền của một người nhất định yêu cầu một người khác thực hiện các hành vi nhất định” [27, tr. Đây 10 là cách tiếp cận của Bộ luật Dân sự Đức 1900 nhấn mạnh tới việc chủ nợ có quyền yêu cầu con nợ một sự thực hiện nào đó, kể cả ở dạng không hành động [11, Điều 241].
Cách thức tiếp cận này cũng được chép lại vào Điều 194, Bộ luật Dân sự Thái Lan 1992. Quan hệ nghĩa vụ được xếp vào quan hệ tài sản hay quan hệ sản nghiệp bởi thế đối tượng của nghĩa vụ phải trị giá được bằng tiền. Vì vậy khác với quyền nhân thân, tài sản có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự, trừ khi bị pháp luật cấm hoặc hạn chế. Còn quyền nhân thân gắn với chủ thể của quyền không trị giá được bằng tiền hay không có giá trị kinh tế, nên không chuyển giao được trong giao lưu dân sự.
Trong khoa học luật dân sự, tài sản được chia thành hai loại lớn là tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình là vật trong quan hệ tài sản. Tài sản vô hình là các quyền [9]. Các quyền tài sản bao gồm: + Vật quyền; + Trái quyền; + Quyền sở hữu trí tuệ.
Trái quyền chỉ quan hệ nghĩa vụ, tức là quan hệ nghĩa vụ là một quan hệ tài sản. Vì vậy quyền yêu cầu của chủ nợ và nghĩa vụ của con nợ đều có giá trị kinh tế hay đều trị giá được bằng tiền, có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Trái quyền là quyền xuất hiện từ mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được xác định. Do đó đây chính là một yếu tố tác động tới quan hệ chuyển giao này.
Khác hơn, vật quyền xuất hiện từ mối quan hệ của một chủ thể xác định với một đối tượng xác định. Đây là yếu tố làm khác biệt giữa sự chuyển giao vật quyền với chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ. Tuy nhiên do tính chất của quyền yêu cầu và nghĩa vụ phải thực hiện quyền yêu 11 cầu đó có khác nhau, cho nên việc chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ có những đòi hỏi hay điều kiện khác nhau do luật định. Khái quát nội dung pháp lý chủ yếu của nghĩa vụ dân sự Kết cấu chủ yếu của quan hệ nghĩa vụ gồm 4 phần được chia như sau: Thứ nhất, về chủ thể, có hai loại chủ thể bao gồm: Một, chủ thể có quyền, tức là chủ thể có quyền yêu cầu chủ thể bên kia của quan hệ nghĩa vụ, và được gọi là người có quyền yêu cầu hay chủ nợ hay trái chủ.
Hai, chủ thể có nghĩa vụ, tức là chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo yêu cầu chủ thể có quyền. Chủ thể có nghĩa vụ còn được gọi là người thụ trái hay người phụ trái hay người có nghĩa vụ hay con nợ, người mắc nợ. Thứ hai, về đối tượng, nghĩa vụ có 03 đối tượng bao gồm: Chuyển giao một tài sản nào đấy; làm một việc gì đấy (nghĩa vụ hành động); không làm một việc gì đấy (nghĩa vụ không hành động). Thứ ba, Về căn cứ phát sinh từ thời La Mã cổ đại, nghĩa vụ được xem là có năm nguồn gốc hay căn cứ phát sinh chủ yếu bao gồm: Hợp đồng; chuẩn hợp đồng hay gần như hợp đồng; vi phạm; chuẩn vi phạm hay gần như vi phạm; nghĩa vụ pháp định [10, tr.
Nhưng ngày nay các căn cứ làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ có thể được tóm tắt trong ba loại sau: (1) Hành vi pháp lý (gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương); (2) sự kiện pháp lý; (3) hiệu lực của luật [10, tr. Hành vi pháp lý, nhất là hợp đồng, là một căn cứ chủ yếu làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ. Vậy chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ hợp đồng thường được nghiên cứu nhiều nhất ở trên thế giới vì nó liên quan tới hoạt động thương mại, trao đổi hàng hóa, dịch vụ không chỉ trong phạm vi một nước, mà trên cả phạm vi quốc tế.