Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐÒNG VÔ HIỆU DO GIÁ TẠO 1. Khái niệm hợp đồng vô hiệu 1. Khái niệm Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự được ghi nhận trong các quy định của BLDS và pháp luật có liên quan. Khi tìm hiểu về khái niệm “hợp đồng vô hiệu” trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản chất của khái niệm “hợp đồng” theo quy định của BLDS hiện hành.
Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ về hợp đồng: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao ước, tờ ưng thuận. Trong cổ luật, dựa vào các cứ liệu lịch sử còn lại cho đến ngày nay, thuật ngữ “văn tự” hay “văn khế”[52, tr.363 - 366], hay mua, bán, cho, cầm đã được sử đụng khá sớm, trong Bộ Quốc triều Hình luật [34, tr. Sau này, thuật ngữ “khế ước ” mới được sử dụng chính thức trong Sắc lệnh ngày 21/7/1925 (được sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 23/11/1926 và Sắc lệnh ngày 06/9/1927) ở Nam phần thuộc Pháp, trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, và trong Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 - 1939. Thuật ngữ “khế ước” cũng được sử dụng trong Sắc lệnh 97/SL của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Hồ Chủ tịch ký ban hành ngày 22/5/1950 (Điều 13).
Thuật ngữ “khế ước” cũng được sử dụng trong Bộ Dân luật 1972 của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam trước 30/4/1975 (Điều 653). Ngoài ra, trong các văn bản nêu trên còn sử dụng thuật ngữ “hiệp ước”, trong đó nhà làm luật xem “khế ước ” là một “hiệp ước”[3, tr.664] hoặc đồng nhất giữa “khế ước ” với “hiệp ưóc”[4, tr. Các văn bản pháp luật hiện hành của nhà nước ta không còn sử dụng thuật ngữ “khế ước” hay “hiệp ước” như trước đây mà sử dụng các thuật ngữ có tính “chức năng”, “công cụ” [22, tr.40] như hợp đồng, hợp dong lao động, hợp đồng thương mại. Trong pháp luật của nhiều nước chỉ sử dụng thuật ngữ “hợp đồng”, chứ không sử dụng các thuật ngữ hợp đông dân sự, hợp đông thương mại, hợp đồng lao động.
như luật Việt Nam. Ngoài việc chọn “hợp đồng” làm thuật ngữ pháp lý chính thức trong các văn bản pháp luật, các luật gia cũng quan tâm tới việc làm rõ nội hàm của khái niệm “hop dong”. Về mặt học thuật và pháp lý, các luật gia cũng đã gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra một định nghĩa về hợp đồng. Đúng như một luật gia đã nhận xét, hợp đồng “dường như là một trong những hiện tượng có thể nhận thức được rất dễ dàng nhưng thật khó khăn để có thể đưa ra được một định nghĩa về nớ”[55, tr.
5 Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem xét nhiều góc độ khác nhau. Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đông” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, “hợp đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau”. Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sw ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận gitta cdc chu thé giao két hop đồng” hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên đỀ có cơ sở cùng nhau thực hiện” [42, tr.
Trong phạm vi mục này, tác giả chỉ bàn về khái niệm hợp đồng hiểu theo nghĩa chủ quan (nghĩa hẹp). Theo đó, ngoài việc được ghi nhận chính thức trong các văn bản pháp luật của nhiều nước trên thế giới, khái niệm hợp đồng còn được nhiều học giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Một trong những định nghĩa sớm nhất về hợp đồng thường được nhiều học giả ngày nay nhắc đến và chấp nhận, là định nghĩa của học giả người Pháp - Pothier trong tác phâm “Traité des obligations” năm 1761: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó hai hoặc chỉ một bên hứa, cam kết với người khác dé chuyén giao mot vat, dé lam mét công việc hoặc không làm một công việc [59, tr. Định nghĩa này không khác gì so với định nghĩa hợp đồng trong các BLDS hiện đại ngày nay.
BLDS Pháp cũng có định nghĩa hợp đồng giống gần như hoàn toàn định nghĩa cua Pothier: “Hop đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiễu người cam kết với một hoặc nhiễu người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đớ” [9, tr. Theo quy định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác”. Tuy có tính khái quát hơn, nhưng định nghĩa này cũng không hoàn toàn “thoát ly” khỏi định nghĩa tại Điều 1101 BLDS Pháp [54, Điều 1378]. Cả hai định nghĩa trên đều thê hiện rõ bản chất của hợp đồng là sự “hỏa thuận” hay “thống nhất ý chí” giữa các bên.
Tuy nhiên, nội dung định nghĩa chỉ thể hiện chức năng của hợp đồng mà chưa chỉ ra được dấu hiệu đặc trưng thứ hai của hợp đồng: nhằm tạo ra hiệu lực ràng buộc pháp lý về quyên và nghĩa vụ giữa các bên. Trong Bách Khoa toàn thư về Pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đông là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc đề 6 không làm một việc, giao một vật xác định” [S6, tr. Định nghĩa này thể hiện rõ ràng hơn bản chất và mục đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nó cũng có tính “hội nhập” hơn với khoa học pháp lý của các quốc gia khác trên thế giới. Điều 385 BLDS 2015 định nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Có thê dễ dàng thấy rằng, quy định tại Điều 385 BLDS Việt Nam 2015 cũng gần giống như quy định của Điều 2 Luật hợp đồng Trung Quốc (1999): “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyển, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác.” và đặc biệt là hoàn toàn giống với quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994): “Hop đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyển, nghĩa vụ dân sự” [22, tr.39] Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dich dân sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm đứt quan hệ pháp luật dân sự. Như vậy, hợp đồng là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ. Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả dấu hiệu mang tính bản chất của hợp đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.
Định nghĩa trên đây của BLDS 2015 được xem là hợp lý và thuyết phục nhất ở Việt Nam từ trước đến nay vì có nội dung ngắn gọn, chuẩn xác; vừa mang tính khái quát cao, phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ “ñøp đồng”, vừa thể hiện rõ vai trò của hợp đồng như là một căn cứ pháp lý (phô biến) làm phát sinh, thay đổi, chấm đứt quyền và nghĩa vụ (dân sự) của các bên [37, tr. Theo quy định của BLDS năm 2015, cách gọi “hợp đồng” thay cho “Hợp đồng dân sự” là một điểm mới hợp lý. Trước đây việc sử dụng khái niệm “hợp đồng dân sự” có thể gây sự trùng lặp giữa khái niệm hợp đồng theo nghĩa rộng với hợp đồng theo nghĩa hẹp (được quy định trong phần riêng về các loại hợp đồng dân sự). Bởi bản thân từ “dân sự” trong pháp luật Việt Nam vừa có thể được hiểu theo nghĩa rộng là để chỉ các vẫn đề thuộc lĩnh vực luật tư nói chung, vừa có thé theo nghĩa hẹp là để chỉ các vấn đề mang tính chất dân sự thuần túy như ngành “luật dân sự”, “hợp đồng dân sự”, 7 “tòa dân sự”.để phân biệt với các vấn đề tương đồng khác không phải dân sự như ngành “luật thương mại” hay “luật hôn nhân và gia đình”.
Như vậy hai từ “dân sự” được đặt ngay sau danh từ “hợp đồng” dường như có chủ ý của nhà làm luật là muốn khẳng định sự khác biệt giữa hợp đồng trong pháp luật dân sự với các hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật chuyên ngành. Hiểu theo nghĩa đó thì tên gọi “hợp đồng dân sự” như quy định trong BLDS năm 2005 trước đây là không phù hợp với tính chất, vị trí, vai trò là luật chung của BLDS. Điều này làm người đọc cảm nhận các quy định trong phần chung về hợp đồng trong BLDS là chỉ dành riêng để điều chỉnh hợp đồng “dân sự” và qua đó quy định này đã tự làm giới hạn phạm vi tác động của quy định về hợp đồng chuyên biệt trong pháp luật chuyên ngành. Hai là, không phải mọi thỏa thuận giữa các bên đều có thê đưa đến một bản hợp đồng.
Ví dụ thỏa thuận kết hôn, thỏa thuận về việc một bên vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con. Trong khi đó, khái niệm “hợp đồng dân sự” được qui định tại Điều 388 BLDS 2005 với chủ định xem đây khái niệm chung được sử dụng để chỉ mọi hợp đồng, chứ không phải chỉ đành cho riêng “hợp đồng dân sự”. Do vậy, không nên đặt từ “dân sự” ngay sau khái niệm “hợp đồng” vì dễ gây hiểu lầm, và không cần thiết. Việc sửa đổi khái niệm Hợp đồng theo hướng bỏ hai từ “đảø sự” kèm theo sau thuật ngữ “#øp đồng” là hoàn toàn hợp lý.