Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, mua bán hàng hóa là phương thức giao dịch thương mại nền tảng nhằm tìm kiếm lợi nhuận và tái sản xuất sức lao động xã hội. Về mặt pháp lý, quan hệ này được xác lập thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa (HĐMBHH), trong đó giai đoạn thực hiện hợp đồng giữ vai trò hiện thực hóa các cam kết, quyền và nghĩa vụ của các bên. Bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức giao kết và thực hiện hợp đồng. Theo số liệu khảo sát của Bộ Công Thương được công bố trong Sách trắng Thương mại điện tử 2021, có 33% doanh nghiệp được khảo sát đã ứng dụng hợp đồng điện tử trong hoạt động thương mại, đặc biệt đối với các giao dịch xuất nhập khẩu xuyên biên giới sang thị trường các nước phát triển.

Bên cạnh sự gia tăng về quy mô và tính phức tạp của các giao dịch, hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa tại Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Luật Thương mại (LTM) năm 2005 là đạo luật chuyên ngành trực tiếp điều chỉnh hoạt động này, dù đã trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2017 và 2019, nhiều quy định thực định (như hình thức hợp đồng, thời điểm chịu rủi ro) vẫn chưa được cập nhật tương thích với thực tiễn kinh tế số và thông lệ thương mại quốc tế (đặc biệt là Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT - CISG mà Việt Nam đã gia nhập). Đồng thời, việc Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 ra đời với nhiều quy định mới về hợp đồng cũng làm phát sinh sự thiếu đồng bộ giữa luật chung và luật chuyên ngành.

Trước khóa luận này, đã có một số công trình nghiên cứu về đề tài HĐMBHH như: luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Kiều Trang (2014), Nguyễn Thúy Hằng (2021), Tạ Thị Nhàn (2019), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2017), Hồng Lê Cẩm Hằng (2021), hay Giáo trình "Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ" của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2020). Tuy nhiên, các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận hợp đồng một cách tổng quan hoặc dựa trên nền tảng pháp lý cũ, chưa đi sâu vào cơ chế thực hiện hợp đồng trong giai đoạn kinh tế số hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận tập trung làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam hiện hành về thực hiện HĐMBHH, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện HĐMBHH và pháp luật về thực hiện HĐMBHH.
  2. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thực hiện HĐMBHH ở Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và bất cập tồn tại.
  3. Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thực hiện HĐMBHH.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thực hiện HĐMBHH và thực tiễn thực thi pháp luật giai đoạn từ năm 2020 đến nay ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Tập trung phân tích các quy định tại LTM 2005 và các điều khoản liên quan trong BLDS 2015. Về nguồn luật quốc tế, khóa luận đối chiếu với CISG 1980, các điều khoản Incoterms 2010 và Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu hệ thống quy định pháp luật từ năm 2005 đến nay; số liệu thực tiễn và hoạt động áp dụng pháp luật tập trung từ năm 2020 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (tháng 04/2024).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống các khái niệm pháp lý thực định:

  • Hợp đồng mua bán hàng hóa: Được xác định dựa trên sự kết hợp giữa Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 (hoạt động mua bán hàng hóa) và Điều 430 BLDS 2015 (hợp đồng mua bán tài sản). Bản chất là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng, thanh toán tiền và nhận quyền sở hữu.
  • Hàng hóa: Theo Khoản 2 Điều 3 LTM 2005, hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh gồm tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất đai. Phạm vi này hẹp hơn khái niệm tài sản quy định tại Điều 105 và Điều 431 BLDS 2015 (bao gồm cả bất động sản, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản).
  • Thương nhân: Quy định tại Khoản 1 Điều 6 LTM 2005, gồm tổ chức kinh tế hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

Hệ thống nguồn luật điều chỉnh thực hiện HĐMBHH bao gồm:

  1. Văn bản quy phạm pháp luật: BLDS 2015 (đạo luật chung điều chỉnh quan hệ dân sự, hợp đồng từ Điều 409 đến Điều 420), LTM 2005 (đạo luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng theo Điều 4), cùng các luật chuyên ngành (Luật Đầu tư 2020, Luật Xây dựng, Luật Sở hữu trí tuệ...).
  2. Điều ước quốc tế: Đứng đầu là CISG 1980. Theo Khoản 4 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Khoản 1 Điều 5 LTM 2005, điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng khi có xung đột với pháp luật trong nước.
  3. Tập quán và thói quen thương mại: Áp dụng theo nguyên tắc quy định tại Điều 12, Điều 13 LTM 2005 và Điều 5 BLDS 2015, bao gồm Incoterms (phiên bản 2010), UCP.
  4. Án lệ: Được áp dụng theo trình tự tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 6 BLDS 2015 khi không có quy định pháp luật hay thỏa thuận cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và hệ thống hóa: Sử dụng xuyên suốt nhằm giải mã cấu trúc nghĩa vụ của bên bán, bên mua và hệ thống hóa các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh quá trình thực hiện hợp đồng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Thực hiện đối chiếu đồng thời trên ba bình diện: (i) So sánh lịch sử giữa LTM 1997 và LTM 2005; (ii) So sánh quan hệ luật chung - luật chuyên ngành giữa BLDS 2015 và LTM 2005; (iii) So sánh pháp luật quốc gia với thông lệ quốc tế (CISG 1980) và pháp luật Cộng hòa Pháp (Điều L121-1 Bộ luật Thương mại Pháp về tư cách thương nhân).
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, trích xuất dữ liệu thực tiễn và số liệu thứ cấp (như Sách trắng Thương mại điện tử 2021).
  • Phương pháp tổng hợp: Được vận dụng chủ yếu tại Chương 3 để đúc kết các tồn tại thực tiễn và xây dựng các đề xuất lập pháp.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về HĐMBHH và pháp luật về thực hiện HĐMBHH:

  • Đặc điểm pháp lý của HĐMBHH: Là hợp đồng song vụ (các bên đều có nghĩa vụ đối ứng theo Điều 402 BLDS 2015); chủ thể chủ yếu là thương nhân (ít nhất một bên phải là thương nhân theo Điều 2 LTM 2005, khác với pháp luật Pháp công nhận thương nhân không cần đăng ký kinh doanh); đối tượng chỉ giới hạn ở động sản và vật gắn liền với đất đai (không bao gồm toàn bộ bất động sản như đất đai theo Khoản 2 Điều 3 LTM 2005); hình thức đa dạng gồm lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể (Điều 24 LTM 2005, các hình thức có giá trị tương đương văn bản gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu theo Khoản 15 Điều 3 LTM 2005); mục đích giao kết chủ yếu nhằm sinh lợi.
  • Phân loại hợp đồng: Theo phương thức giao dịch (trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sàn giao dịch hàng hóa, đại lý, ủy thác) và theo phạm vi lãnh thổ (trong nước hoặc quốc tế theo Khoản 1 Điều 27 LTM 2005, đối chiếu với tiêu chí trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau của CISG).
  • Khái niệm và nguyên tắc thực hiện HĐMBHH: Thực hiện HĐMBHH là quá trình các bên thực hiện các hành vi nhằm chuyển hóa các điều khoản cam kết thành hiện thực. Hoạt động này chịu sự chi phối của 4 nguyên tắc căn bản: (1) Thực hiện đúng đối tượng hợp đồng; (2) Thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết; (3) Thực hiện trung thực, thiện chí, hợp tác và cùng có lợi; (4) Không vi phạm điều cấm của pháp luật, không xâm phạm lợi ích công cộng và quyền lợi hợp pháp của người khác.
  • Nội dung cơ bản của pháp luật về thực hiện HĐMBHH: Khái quát nhóm quy định về nghĩa vụ của bên bán (chuyển giao hàng hóa Điều 34-39, chuyển rủi ro Điều 57-61, bảo đảm quyền sở hữu Điều 45 và quyền sở hữu trí tuệ Điều 46, nghĩa vụ bảo hành Điều 49) và nghĩa vụ của bên mua (tiếp nhận hàng hóa Điều 56, thanh toán tiền hàng Điều 50-55 LTM 2005).

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá quá trình áp dụng trong thực tiễn:

  • Quy định về nghĩa vụ của bên bán:
    • Giao hàng và chuyển giao chứng từ: LTM 2005 chuyển từ phương pháp quy định nghĩa vụ có tính áp đặt của LTM 1997 sang tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên và bổ sung các quy tắc dự liệu khi không có thỏa thuận (Điều 34, 42 LTM 2005). Thời hạn giao hàng có thể xác định cụ thể hoặc linh hoạt trong một khoảng thời gian.
    • Tiêu chuẩn phù hợp của hàng hóa: Điều 39 LTM 2005 quy định các trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận (không phù hợp mục đích sử dụng thông thường, không phù hợp mục đích cụ thể đã thông báo, không đạt chất lượng hàng mẫu, đóng gói không đúng cách thức). Điểm này tương đồng với Điều 35 CISG.
    • Kiểm tra hàng hóa trước khi giao: Điều 44 LTM 2005 quy định rõ quyền kiểm tra của bên mua, cơ chế hoãn kiểm tra khi có vận chuyển, và phân định trách nhiệm về khiếm khuyết. So với Điều 61 LTM 1997 (chỉ quy định nghĩa vụ kiểm tra đơn phương thuộc về người bán), quy định hiện hành đã cân bằng quyền lợi và ràng buộc trách nhiệm thông báo của người mua.
    • Cơ chế chuyển giao rủi ro (Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005): Phân định 5 trường hợp cụ thể: (1) Có địa điểm giao hàng xác định (rủi ro chuyển khi giao hàng cho người mua hoặc người được ủy quyền); (2) Không có địa điểm giao hàng xác định (rủi ro chuyển khi giao cho người vận chuyển đầu tiên theo Điều 58 - đối chiếu với Điều 67(1) CISG có quy định thêm trường hợp giao tại địa điểm cụ thể cho người vận chuyển); (3) Giao cho người nhận hàng để giao không phải người vận chuyển (Điều 59); (4) Mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển (rủi ro chuyển từ thời điểm giao kết hợp đồng theo Điều 60); (5) Các trường hợp khác khi bên mua vi phạm nghĩa vụ nhận hàng và hàng đã được đặc định hóa (Điều 61). So sánh cho thấy LTM 2005 tách biệt thời điểm chuyển rủi ro với thời điểm chuyển quyền sở hữu, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký quyền sở hữu như quy định tại Điều 441 BLDS 2015.
    • Bảo đảm quyền sở hữu và quyền sở hữu trí tuệ: Điều 45 và Điều 46 LTM 2005 quy định bên bán phải chịu trách nhiệm về các tranh chấp quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu trí tuệ của bên thứ ba. Tuy nhiên, Điều 47 LTM 2005 yêu cầu bên mua phải thông báo "ngay", trong khi Điều 43 CISG cho phép thông báo "trong một thời hạn hợp lý".
    • Bảo hành hàng hóa: Điều 49 LTM 2005 quy định trách nhiệm bảo hành theo thỏa thuận. Khóa luận phân tích tình huống thực tế áp dụng thời hạn khiếu nại chất lượng: trường hợp có cam kết bảo hành thì thời hạn khiếu nại là 03 tháng kể từ ngày hết hạn bảo hành, thay vì áp dụng thời hạn khiếu nại thông thường 06 tháng kể từ ngày giao hàng theo Khoản 2 Điều 318 LTM 2005.
  • Quy định về nghĩa vụ của bên mua:
    • Nhận hàng hóa: Nghĩa vụ nhận hàng tại Điều 56 LTM 2005 bao gồm cả việc thực hiện các công việc hợp lý để bên bán thực hiện việc giao hàng (tương thích Điều 60 CISG). Bên cạnh đó, bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu bên bán giao trước thời hạn mà không có thỏa thuận (Điều 38) hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng (Điều 39).
    • Thanh toán tiền hàng: Tuân thủ phương thức, thời hạn, địa điểm từ Điều 50 đến Điều 55 LTM 2005. Bên mua vẫn phải thanh toán nếu rủi ro mất mát, hư hỏng xảy ra sau thời điểm rủi ro đã chuyển giao, trừ trường hợp lỗi do bên bán.
  • Đánh giá thực trạng và thực tiễn thực thi (giai đoạn từ 2020 đến nay): Pháp luật đã thiết lập hành lang pháp lý tự do kinh doanh nhưng vẫn tồn tại xung đột giữa BLDS 2015 và LTM 2005, quy định về nghĩa vụ rủi ro khi có người vận chuyển còn thiếu sót so với CISG, và thực tiễn thương mại điện tử làm phát sinh nhiều tranh chấp về kiểm tra hàng hóa, chuyển giao chứng từ điện tử.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Dựa trên các bất cập đã chỉ ra, Chương 3 đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Tiêu chí xác định hàng hóa phù hợp: Cần bổ sung và cụ thể hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật, định lượng rõ ràng tại Điều 39 LTM 2005 nhằm giải quyết bất đồng khi đánh giá tính phù hợp của hàng hóa.
    2. Ngoại lệ chịu trách nhiệm về khiếm khuyết: Bổ sung quy định miễn trừ trách nhiệm cho bên bán nếu bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếm khuyết của hàng hóa tại thời điểm giao kết hợp đồng.
    3. Thống nhất quy định giao hàng cùng chứng từ: Rà soát, xử lý sự thiếu tương thích giữa LTM 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến nghĩa vụ bàn giao giấy tờ kèm theo hàng hóa.
    4. Bổ sung trách nhiệm rủi ro của bên bán vào Điều 58 LTM 2005: Bổ sung trường hợp bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển tại một địa điểm xác định thì rủi ro chỉ chuyển sang bên mua khi hàng đã được bàn giao tại địa điểm đó (tương thích Điều 67(1) CISG).
    5. Quy định về thời điểm hoàn thành nghĩa vụ giao hàng: Cần bổ sung một điều khoản độc lập xác định chính xác thời điểm bên bán được coi là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng để làm căn cứ tính toán trách nhiệm vi phạm và thời hạn thanh toán.
    6. Sửa đổi, bổ sung Điều 49 LTM 2005 về bảo hành: Quy định cụ thể cách tính thời hạn bảo hành khi hàng hóa phải sửa chữa kéo dài hoặc bị thay thế linh kiện, phân định rõ ràng giữa chi phí vận chuyển bảo hành và chi phí sửa chữa.
    7. Sửa đổi quy định về lãi suất chậm thanh toán: Điều chỉnh quy định về lãi suất áp dụng khi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhằm tạo sự thống nhất giữa LTM 2005 và quy định về lãi suất tại Điều 357, Điều 468 BLDS 2015.
  • Các kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
    1. Cơ quan Nhà nước: Nắm bắt kịp thời xu hướng chuyển đổi số để hoàn thiện chính sách, khung pháp lý đối với hợp đồng thương mại điện tử và giao dịch xuyên biên giới.
    2. Thương nhân: Hình thành thói quen điều tra, thẩm định năng lực pháp lý và tài chính của đối tác trước khi đàm phán, ký kết HĐMBHH.
    3. Doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh: Chủ động nâng cao trình độ, kiến thức pháp lý về hợp đồng thương mại, kỹ năng soạn thảo điều khoản chuyển rủi ro và khiếu nại.
    4. Cơ chế kiểm tra: Khuyến khích áp dụng chính sách "Đồng kiểm hàng hóa" trong các giao dịch mua bán hàng hóa trực tuyến nhằm giảm thiểu rủi ro khiếm khuyết và tranh chấp trách nhiệm bàn giao.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu làm rõ các điểm tương đồng và phân hóa giữa các nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa tại Việt Nam và văn bản quốc tế:

Tiêu chí pháp lý Luật Thương mại 2005 Bộ luật Dân sự 2015 Công ước Viên 1980 (CISG)
Đối tượng hợp đồng Động sản (gồm động sản tương lai) và vật gắn liền với đất đai (Khoản 2 Điều 3). Tài sản rộng hơn: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản; động sản và bất động sản (Điều 105, 431). Hàng hóa hữu hình trong giao dịch thương mại quốc tế (loại trừ tiêu dùng cá nhân, tàu thuyền, chứng khoán...).
Chủ thể giao dịch Chủ yếu là thương nhân (ít nhất một bên phải là thương nhân theo Điều 2). Cá nhân, pháp nhân nói chung; bình đẳng về địa vị pháp lý dân sự. Các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
Cơ sở chuyển giao rủi ro Phân định theo 5 trường hợp giao nhận thực tế (Điều 57-61); tách rời việc chuyển quyền sở hữu. Giao tài sản (không phải đăng ký) hoặc thời điểm hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu (Khoản 2 Điều 441). Dựa trên việc chuyển giao thực tế cho người vận chuyển hoặc việc bên mua tiếp nhận hàng hóa (Điều 67-69).
Thời hạn thông báo khi có tranh chấp từ bên thứ ba Phải thông báo "ngay" sau khi biết hoặc phải biết (Khoản 1 Điều 47). Tuân theo thời hạn báo trước hoặc quy định chung về bảo đảm quyền sử dụng tài sản. Phải thông báo "trong một thời hạn hợp lý" kể từ lúc biết hoặc đáng lẽ phải biết (Khoản 1 Điều 43).
Kiểm tra hàng hóa trước khi giao Quy định quyền kiểm tra của người mua và trách nhiệm hỗ trợ của người bán (Điều 44). Các bên tự thỏa thuận về việc kiểm tra tài sản trước khi nhận. Người mua có nghĩa vụ kiểm tra trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh cho phép (Điều 38).

Khóa luận đóng góp hệ thống luận cứ pháp lý đối chiếu trực tiếp giữa luật thực định trong nước và quốc tế, chỉ ra điểm nghẽn giữa quy định chuyển rủi ro của LTM 2005 với Điều 441 BLDS 2015 và Điều 67 CISG, đồng thời xây dựng hệ thống 7 giải pháp sửa đổi luật thực định và 4 giải pháp thực thi phù hợp với kỷ nguyên thương mại điện tử.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ năm 2020 đến đầu năm 2024, thời kỳ thương mại điện tử phát triển mạnh nhưng cơ chế xét xử án lệ về hợp đồng số tại Việt Nam chưa tích lũy thành hệ thống toàn diện. Về phạm vi lập pháp, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào luật chung LTM 2005 và BLDS 2015, chưa đi sâu giải quyết xung đột tại các luật chuyên ngành đặc thù như Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Chứng khoán đối với các đối tượng tài sản đặc biệt. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát cơ chế thực hiện hợp đồng thông minh (smart contract), chữ ký số và giải quyết tranh chấp trực tuyến đối với các vi phạm nghĩa vụ giao hàng và thanh toán xuyên biên giới.


Giá trị tham khảo

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại và các nhà nghiên cứu pháp luật hợp đồng. Các phân tích chi tiết về 5 trường hợp chuyển rủi ro (Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005), so sánh thời hạn thông báo tranh chấp quyền sở hữu với CISG và giải quyết tranh chấp thời hiệu khiếu nại bảo hành theo Điều 318 LTM 2005 mang lại giá trị vận dụng thực tế cho đội ngũ luật sư doanh nghiệp, trọng tài viên VIAC và cán bộ pháp chế khi soạn thảo và thực hiện HĐMBHH.


Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm thương nhân theo LTM 2005 khác biệt thế nào so với quy định của Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp?
Theo Khoản 1 Điều 6 LTM 2005, thương nhân tại Việt Nam bắt buộc phải thỏa mãn 4 điều kiện đồng thời: là cá nhân hoặc tổ chức hợp pháp, hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và phải có đăng ký kinh doanh. Ngược lại, Điều L121-1 Bộ luật Thương mại Pháp quy định thương nhân là người thực hiện hành vi thương mại thường xuyên như một nghề nghiệp mà không bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh.

2. Điểm khác biệt căn bản về cơ chế chuyển rủi ro đối với hàng hóa giữa LTM 2005 và BLDS 2015 là gì?
BLDS 2015 (Khoản 2 Điều 441) gắn trách nhiệm chịu rủi ro với thủ tục đăng ký quyền sở hữu (đối với tài sản phải đăng ký, bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký). Trong khi đó, LTM 2005 (Điều 57-61) phân định chuyển rủi ro độc lập với việc đăng ký quyền sở hữu, chỉ căn cứ vào hành vi giao nhận thực tế giữa các bên, người vận chuyển hoặc sự vi phạm nghĩa vụ nhận hàng.

3. Khi phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu từ bên thứ ba, thời hạn thông báo của bên mua theo LTM 2005 khác gì so với CISG 1980?
Khoản 1 Điều 47 LTM 2005 quy định bên mua phải thông báo "ngay" cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba để không bị mất quyền khiếu nại. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 43 CISG 1980 áp dụng tiêu chí linh hoạt hơn là thông báo "trong một thời hạn hợp lý" kể từ thời điểm người mua đã biết hoặc đáng lẽ phải biết về yêu sách đó.

4. Khóa luận đưa ra giải pháp nào cho vấn đề kiểm tra hàng hóa trong giao dịch thương mại điện tử?
Tác giả đề xuất tại Chương 3 giải pháp áp dụng chính sách "Đồng kiểm hàng hóa" khi mua hàng trực tuyến. Cơ chế này bảo đảm bên mua được thực hiện quyền kiểm tra hàng hóa trước khi nhận theo tinh thần Điều 44 LTM 2005, xác định tức thì khiếm khuyết vật chất của sản phẩm và hạn chế tranh chấp phát sinh giữa người bán, đơn vị vận chuyển và người mua.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thu Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Công trình làm nổi bật những bất cập trong việc áp dụng LTM 2005, chỉ ra sự không thống nhất giữa luật thương mại chuyên ngành với BLDS 2015 và các chuẩn mực thương mại quốc tế như CISG 1980. Bằng việc đề xuất 7 giải pháp lập pháp cụ thể và 4 khuyến nghị thực thi, nghiên cứu cung cấp những luận cứ khoa học thực chất nhằm nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật hợp đồng trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế số tại Việt Nam.