Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngân hàng giữ vai trò trung gian điều hòa vốn giữa chủ thể dư thừa và chủ thể có nhu cầu về vốn. Bên cạnh các nghiệp vụ cấp tín dụng truyền thống như cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ kinh doanh cổ điển giúp khách hàng tiếp cận nguồn vốn tức thời trước khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, đồng thời tạo nguồn thu lợi nhuận và dự trữ thanh khoản thứ cấp an toàn cho ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều vướng mắc pháp lý do các quy định pháp luật điều chỉnh còn tản mạn, thiếu đồng bộ và chủ yếu tập trung điều chỉnh hoạt động chiết khấu nói chung mà chưa phân tích chuyên sâu về hình thức pháp lý cốt lõi là hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo pháp luật Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Ngô Thị Linh (Mã SV: 1912901005, Lớp PL2301, Ngành Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng) dưới sự hướng dẫn của ThS. Lại Quý Cần năm 2023.

Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 câu hỏi chính:

  1. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là gì? Bản chất pháp lý, đặc điểm và phân loại của loại hợp đồng này được xác định ra sao?
  2. Thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam như thế nào?
  3. Có những định hướng và giải pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đặt trong mối tương quan với pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành ngân hàng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào quan hệ hợp đồng chiết khấu giữa ngân hàng thương mại và khách hàng (tổ chức, cá nhân) theo quy định của pháp luật Việt Nam (trọng tâm là Thông tư số 04/2013/TT-NHNN, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Bộ luật Dân sự), không đi sâu vào nghiệp vụ chiết khấu tái cấp vốn giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng hoặc giao dịch giữa các tổ chức tín dụng với nhau. Địa điểm thực tập tốt nghiệp của tác giả là Công ty TNHH Cát Linh Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các nền tảng lý thuyết và khung pháp lý chuyên ngành:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và lý thuyết áp dụng:

  • Văn bản pháp luật nền tảng: Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 (Điều 388, Điều 439) và Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 385) về chế định hợp đồng và quyền sở hữu; Luật Thương mại 2005 (Điều 221).
  • Văn bản pháp luật chuyên ngành: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 (Điều 6 khoản 8); Luật Các tổ chức tín dụng 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (khoản 13, 14, 19, 20 Điều 4; Điều 20, 93, 98, 108, 117, 123); Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005 (Điều 1, Điều 4, Điều 17); Pháp lệnh Thương phiếu số 17/1999/PL-UBTVQH10 và Nghị định số 32/2001/NĐ-CP; Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN; Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN; Thông tư số 04/2013/TT-NHNN; Thông tư số 21/2012/TT-NHNN; Thông tư số 01/2013/TT-NHNN; Thông tư số 34/2013/TT-NHNN; Thông tư số 36/2014/TT-NHNN; Công văn số 3212/NHNN-CSTT ngày 08/05/2013; các quy định về phát hành trái phiếu (Nghị định 01/2011/NĐ-CP, Nghị định 90/2011/NĐ-CP) và giao dịch bảo đảm (Nghị định 163/2006/NĐ-CP, Nghị định 11/2012/NĐ-CP).
  • Tập quán thương mại quốc tế: Các quy tắc thực hành thống nhất của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) như UCP 600, URC 522.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý cụ thể:

  1. Phương pháp phân tích kết hợp bình luận: Phân tích nội dung các quy phạm pháp luật thực định về chủ thể, đối tượng, hình thức và điều kiện chiết khấu.
  2. Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động của ngân hàng thương mại để định hình các yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật ngân hàng, giữa hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và hợp đồng bao thanh toán để làm rõ tính đặc thù của giao dịch.
  4. Phương pháp tổng kết thực tiễn: Kết nối giữa lý luận pháp lý với thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại (như hồ sơ điều chỉnh giấy phép của VPBank, quy định nội bộ của MB Bank).

Nguồn dữ liệu: Các văn bản luật, nghị định, thông tư của Ngân hàng Nhà nước, giáo trình Luật Ngân hàng của Đại học Luật Hà Nội, các công trình nghiên cứu chuyên ngành và tài liệu thực tế từ các ngân hàng thương mại.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và pháp luật điều chỉnh hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá

Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học pháp lý về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật:

  • Khái niệm chiết khấu giấy tờ có giá: Khóa luận tiếp cận khái niệm chiết khấu dưới ba góc độ:
    • Góc độ lý luận: Là việc ngân hàng thỏa thuận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước kỳ hạn thanh toán với điều kiện khấu trừ một phần giá trị (lợi tức chiết khấu).
    • Góc độ kinh tế: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn dựa trên kỹ thuật chuyển nhượng trái quyền với giá thấp hơn giá trị bề mặt của chứng từ.
    • Góc độ pháp lý: Phân tích sự tiến triển từ Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (giới hạn ở thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn) đến Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (mở rộng thành việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác).
  • Khái niệm và đặc điểm hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá: Khái niệm hợp đồng bắt nguồn từ thuật ngữ La-tinh "contrahere" (ràng buộc). Trên cơ sở đối chiếu Bộ luật Dân sự (2005, 2015) và Thông tư 04/2013/TT-NHNN, tác giả định nghĩa: Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng thương mại và khách hàng, theo đó ngân hàng ứng trước một số tiền cho khách hàng để đổi lấy quyền sở hữu giấy tờ có giá do khách hàng chuyển giao trước khi đến hạn thanh toán. Hợp đồng mang 4 đặc trưng pháp lý: (i) Tính song vụ; (ii) Tính có đền bù; (iii) Hình thức bắt buộc phải lập thành văn bản; (iv) Cơ chế chuyển giao quyền sở hữu xác lập quyền đòi nợ thay thế cho khách hàng.
  • Phân loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá:
    • Theo thời hạn: Chiết khấu ngắn hạn (dưới 1 năm - bảo đảm thanh khoản tốt hơn) và chiết khấu dài hạn (từ 1 năm trở lên - lãi suất cao hơn tương ứng với rủi ro). Giấy tờ có giá do TCTD khác phát hành bắt buộc áp dụng thời hạn dưới 1 năm.
    • Theo khả năng thanh toán/truy đòi: Chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi (khách hàng chịu trách nhiệm hoàn trả nếu người có nghĩa vụ không thanh toán) và chiết khấu không bảo lưu quyền truy đòi (ngân hàng gánh chịu toàn bộ rủi ro).
    • Theo quyền mua lại: Chiết khấu có kỳ hạn (khách hàng cam kết mua lại sau khoảng thời gian xác định) và chiết khấu toàn bộ thời gian (mua đứt quyền sở hữu).
  • Phân biệt hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và hợp đồng bao thanh toán: Khóa luận làm rõ ranh giới giữa hai nghiệp vụ cấp tín dụng dễ bị nhầm lẫn thông qua bảng đối chiếu các tiêu chí pháp lý:
Tiêu chí phân biệt Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá Hợp đồng bao thanh toán
Căn cứ pháp lý Khoản 19 Điều 4 Luật TCTD 2010; Thông tư 04/2013/TT-NHNN Khoản 7 Điều 4 Luật TCTD 2010; Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN (sửa đổi bởi QĐ 30/2008/QĐ-NHNN)
Chủ thể khách hàng Người thụ hưởng công cụ chuyển nhượng, chủ sở hữu giấy tờ có giá hợp pháp Bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có các khoản phải thu (hoặc bên mua hàng với khoản phải trả)
Đối tượng hợp đồng Công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán Các khoản phải thu hoặc khoản phải trả phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Phương thức thực hiện Mua có kỳ hạn; Mua có bảo lưu quyền truy đòi Bao thanh toán từng lần; Bao thanh toán theo hạn mức; Đồng bao thanh toán
Bảo lưu quyền truy đòi Phân loại thành phương thức có bảo lưu quyền truy đòi hoặc mua có kỳ hạn Phân thành hai loại hình: Có quyền truy đòi và không có quyền truy đòi
  • Quá trình phát triển và sự cần thiết điều chỉnh: Phân tích lộ trình hoàn thiện văn bản từ Luật TCTD 1997, Pháp lệnh Thương phiếu 1999, Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN, Luật CCCN 2005, Quyết định 63/2006/QĐ-NHNN đến bước ngoặt của Luật TCTD 2010 và Thông tư 04/2013/TT-NHNN. Sự điều chỉnh bằng pháp luật là tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường vốn, bảo vệ quyền lợi các bên giao dịch và hội nhập kinh tế quốc tế (AFTA, WTO, TPP, AEC).

Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương này đi sâu vào phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh các yếu tố cấu thành của hợp đồng:

1. Chủ thể của hợp đồng chiết khấu:

  • Bên nhận chiết khấu (Ngân hàng thương mại): Phải đáp ứng 2 điều kiện bắt buộc theo Điều 4 Thông tư 04/2013/TT-NHNN:
    • Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp phải ghi rõ nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác. (Dẫn chứng thực tiễn: Ngày 10/04/2015, VPBank phải trình Đại hội đồng cổ đông sửa đổi, bổ sung Giấy phép để chuẩn hóa thuật ngữ chiết khấu theo Thông tư 04).
    • Phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động chiết khấu tuân thủ Điều 93 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư số 36/2014/TT-NHNN.
  • Bên đề nghị chiết khấu (Khách hàng): Theo khoản 3 Điều 2 Thông tư 04/2013/TT-NHNN, khách hàng là người thụ hưởng CCCN hoặc chủ sở hữu GTCG hợp pháp phát hành tại Việt Nam (tổ chức, cá nhân trong nước; pháp nhân, cá nhân nước ngoài cư trú/hoạt động hợp pháp). Văn bản đã loại trừ TCTD khỏi nhóm khách hàng thông thường để điều chỉnh riêng tại Thông tư 21/2012/TT-NHNN. Các ngân hàng thương mại áp dụng thêm điều kiện nội bộ chặt chẽ (Ví dụ: MB Bank yêu cầu xếp hạng tín dụng nội bộ từ hạng A trở lên, hoạt động tối thiểu 5 năm, 3 năm liền kề có lãi, không phát sinh nợ nhóm 2 trong 12 tháng).

2. Đối tượng của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá:

  • Bản chất giấy tờ có giá: Khóa luận xác định giấy tờ có giá dựa trên 3 thuộc tính: (1) Xác nhận quyền tài sản; (2) Trị giá được bằng tiền; (3) Có thể chuyển giao quyền sở hữu trong giao lưu dân sự.
  • Phạm vi đối tượng theo pháp luật thực định:
    • Công cụ chuyển nhượng (CCCN): Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các CCCN khác.
    • Giấy tờ có giá khác: Tín phiếu NHNN, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương, kỳ phiếu/tín phiếu/chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu do TCTD hoặc tổ chức khác phát hành.
    • Vướng mắc thực tiễn: Pháp luật Việt Nam chưa công nhận bộ chứng từ xuất khẩu không kèm hối phiếu là CCCN/GTCG (Công văn số 3212/NHNN-CSTT ngày 08/05/2013), buộc các ngân hàng phải áp dụng tập quán quốc tế (UCP 600, URC 522).
Nhóm đối tượng Danh mục cụ thể theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN Điều kiện pháp lý để được nhận chiết khấu
Công cụ chuyển nhượng Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, CCCN khác (1) Phát hành hợp pháp theo luật Việt Nam/quốc tế;
(2) Thuộc quyền thụ hưởng hợp pháp, không tranh chấp, không cầm cố;
(3) Không ghi cụm từ "Cấm chuyển nhượng", "Không được chuyển nhượng", "Không trả theo lệnh";
(4) Chưa đến hạn thanh toán;
(5) Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa.
Giấy tờ có giá khác Tín phiếu NHNN, Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu bảo lãnh, Trái phiếu địa phương, Trái phiếu DN, Chứng chỉ tiền gửi, Kỳ phiếu/Tín phiếu TCTD (1) Phát hành hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam;
(2) Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng, không tranh chấp, không cầm cố bảo đảm nghĩa vụ khác;
(3) Được phép giao dịch theo quy định của pháp luật;
(4) Chưa đến hạn thanh toán;
(5) Còn nguyên vẹn, không tẩy xóa, sửa chữa.

Chương 3: Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Dựa trên việc nhận diện các bất cập tại Chương 2, chương này đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật:

  • Hoàn thiện quy định về chủ thể: Làm rõ và chuẩn hóa các quy định hướng dẫn nội dung trong quy định nội bộ của ngân hàng thương mại; hoàn thiện cơ chế thẩm tra năng lực pháp luật của khách hàng nước ngoài tham gia chiết khấu.
  • Mở rộng và chuẩn hóa đối tượng chiết khấu: Khắc phục khoảng trống pháp lý đối với việc chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu trong thanh toán quốc tế; xây dựng quy chế pháp lý rõ ràng để luật hóa các tập quán thương mại quốc tế (UCP 600, URC 522) vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
  • Hoàn thiện các điều khoản cốt lõi của hợp đồng: Quy định cụ thể chế tài và hậu quả pháp lý trong trường hợp hết thời hạn chiết khấu có kỳ hạn mà khách hàng vi phạm cam kết mua lại; chuẩn hóa quy trình thực thi quyền truy đòi của ngân hàng đối với các bên liên quan khi người phát hành từ chối thanh toán.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa lý luận chuyên sâu: Xác lập định nghĩa hoàn chỉnh về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá, làm rõ 4 đặc trưng pháp lý và xây dựng hệ thống tiêu chí phân loại hợp đồng (theo thời hạn, theo bảo lưu quyền truy đòi, theo quyền mua lại).
  • Phân định ranh giới pháp lý: Phân tích mạch lạc sự khác nhau giữa hợp đồng chiết khấu và hợp đồng bao thanh toán dựa trên các điều khoản của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản quy định nghiệp vụ của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
  • Đánh giá thực trạng pháp luật theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN: Khóa luận chỉ ra bước phát triển căn bản của Thông tư số 04/2013/TT-NHNN trong việc lần đầu tiên quy định khái niệm, hình thức và nội dung hợp đồng chiết khấu, đồng thời chỉ ra các hạn chế thực tế như việc chưa bao quát nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước đây:
    • So với khóa luận của Nguyễn Thị Nhung (2006, Đại học Luật Hà Nội): Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung chỉ tập trung vào hoạt động chiết khấu nói chung và căn cứ trên văn bản đã hết hiệu lực (Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN); khóa luận của Ngô Thị Linh tiếp cận trực diện hợp đồng chiết khấu dưới khung pháp lý cập nhật của Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Bộ luật Dân sự và Thông tư 04/2013/TT-NHNN.
    • So với khóa luận của Lương Thị Thùy Linh (2011, Đại học Luật Hà Nội): Nghiên cứu năm 2011 chỉ đề cập sơ bộ về hợp đồng và phân tích dựa trên Quyết định 1325/2004/QĐ-NHNN; khóa luận của Ngô Thị Linh đã cập nhật toàn diện quy chế mới tại Thông tư số 04/2013/TT-NHNN thay thế các văn bản cũ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận mới dừng lại ở quan hệ hợp đồng chiết khấu giữa ngân hàng thương mại và khách hàng thông thường; chưa nghiên cứu sâu quan hệ tái chiết khấu giữa các tổ chức tín dụng với nhau theo Thông tư số 21/2012/TT-NHNN hoặc nghiệp vụ tái cấp vốn thông qua chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước theo Thông tư số 01/2012/TT-NHNN. Bên cạnh đó, việc phân tích thực tiễn chủ yếu dựa trên các quy chế nội bộ và báo cáo công khai của một số ngân hàng thương mại, chưa có số liệu thống kê tổng thể toàn ngành về quy mô tranh chấp hợp đồng chiết khấu tại tòa án.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu toàn diện khung pháp lý về hợp đồng tái chiết khấu liên ngân hàng; giải pháp pháp lý đồng bộ hóa bộ chứng từ thương mại điện tử và công cụ chuyển nhượng số hóa với quy chế chiết khấu ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu có giá trị cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về lý luận hợp đồng tín dụng ngân hàng, đặc biệt là phần phân biệt giữa chiết khấu giấy tờ có giá và bao thanh toán.
  • Cán bộ pháp chế, nhân viên tín dụng ngân hàng: Tham khảo các phân tích chi tiết về điều kiện hiệu lực của hợp đồng, điều kiện nhận chiết khấu đối với từng loại công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác nhằm phòng ngừa rủi ro pháp lý khi soạn thảo và giao kết hợp đồng.
  • Doanh nghiệp và khách hàng vay vốn: Nắm rõ quyền và nghĩa vụ trong giao dịch chiết khấu, các trường hợp bị truy đòi và cam kết mua lại có kỳ hạn để chủ động phương án tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá bắt buộc phải lập thành hình thức nào?
Theo quy định tại Thông tư 04/2013/TT-NHNN và phân tích tại khóa luận, hợp đồng chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác bắt buộc phải được lập thành văn bản nhằm ghi nhận ý chí thỏa thuận và xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia.

2. Điểm khác biệt mấu chốt giữa chiết khấu có kỳ hạn và chiết khấu toàn bộ thời gian là gì?
Trong hợp đồng chiết khấu có kỳ hạn, việc chuyển giao quyền sở hữu mang tính chất tạm thời, khách hàng có nghĩa vụ cam kết mua lại giấy tờ có giá sau một khoảng thời gian thỏa thuận. Trong khi đó, chiết khấu toàn bộ thời gian là hình thức ngân hàng mua đứt giấy tờ có giá cho đến ngày đáo hạn và có toàn quyền định đoạt hoặc tái chiết khấu cho bên thứ ba.

3. Ngân hàng thương mại cần đáp ứng điều kiện pháp lý tiên quyết nào để được thực hiện nhận chiết khấu giấy tờ có giá cho khách hàng?
Ngân hàng thương mại phải đáp ứng hai điều kiện pháp định theo Điều 4 Thông tư 04/2013/TT-NHNN: (1) Trong Giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp phải ghi rõ nội dung cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu CCCN, GTCG khác; (2) Ban hành quy định nội bộ thực hiện hoạt động chiết khấu phù hợp với pháp luật cấp tín dụng.

4. Vì sao công cụ chuyển nhượng có ghi cụm từ "Cấm chuyển nhượng" hoặc "Không trả theo lệnh" không được ngân hàng nhận chiết khấu?
Bản chất của chiết khấu là ngân hàng ứng trước tiền để đổi lấy quyền sở hữu và quyền đòi tiền người có nghĩa vụ khi đến hạn. Nếu công cụ chuyển nhượng ghi cụm từ "Cấm chuyển nhượng", ngân hàng sẽ không thể xác lập tư cách người thụ hưởng hợp pháp và không thể thực hiện quyền đòi tiền từ bên có nghĩa vụ thanh toán khi đáo hạn.

5. Pháp luật Việt Nam hiện đã cho phép chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu không kèm hối phiếu như một công cụ chuyển nhượng hay chưa?
Theo Công văn số 3212/NHNN-CSTT ngày 08/05/2013 của Ngân hàng Nhà nước được trích dẫn trong khóa luận, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định bộ chứng từ xuất khẩu không có hối phiếu là công cụ chuyển nhượng được chiết khấu theo quy định của Luật Các công cụ chuyển nhượng. Hoạt động này hiện phải áp dụng tập quán thương mại quốc tế (UCP 600, URC 522).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Linh đã hoàn thành việc hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất pháp lý, các tiêu chí phân loại hợp đồng, phân định chiết khấu với bao thanh toán và rà soát hệ thống điều kiện đối với chủ thể cùng đối tượng giấy tờ có giá theo Thông tư 04/2013/TT-NHNN. Các kiến nghị được đưa ra gắn liền với yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ vướng mắc thực tiễn và thúc đẩy sự phát triển minh bạch, an toàn của thị trường chiết khấu giấy tờ có giá tại Việt Nam.