Chương 1. Một số van dé lý luận về biện pháp đặt cọc Chương 2. Thực trang pháp luật Việt Nam về dat cọc Chương 3. Thực tiễn áp dung và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đặt cọc PHAN NỘI DUNG CHUONG 1.
MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE BIEN PHÁP ĐẶT coc 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 1. Khai niém bao dam thi hiện nghĩa vịt Bảo dam thực hiện nghĩa vu dan sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng, để bao dam cho việc thực hiện nghĩa vụ dan sự đã xác lap, đông thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xâu do việc vi pham nghĩa vu dân sự được bao dam gây ra. Trong trường hợp người có nghĩa vụ dân sư không thực hiện, thực hiện không đúng, không day đủ, người có quyên có thé áp dung BPBĐ đã xác lập dé buộc bên bảo dam (có thé là chính bên có nghĩa vụ hoặc bên thứ ba) phải thực hiện đúng nghĩa vụ bảo đâm đã cam kết.
Trong một quan hé nghia vụ, người có quyên được chủ động yêu cau người có nghia vu phải thực hiện nghia vu của họ và chỉ khi nao công việc đó được thực hiện đúng thì người có quyển mới thöa mãn được lợi ích của mình. Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiên không đúng nghĩa vu thì về mặt pháp lý bên có quyền có thể tự mình áp dụng hành vi phù hợp hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyên áp dụng biên pháp cưỡng chế, buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, nhiêu khi van không bảo dam được quyển lợi của người có quyền nêu người vi phạm nghia vụ không có kha năng tai san để thực hiện nghĩa vu. Nhằm khắc phục tình trạng trên vả tạo cho người có quyên trong các quan hệ nghĩa vụ có được thê chủ động trong thực tế hưởng quyên dân sự, pháp luật cho phép các bên có thé thöa thuận đặt ra các BPBĐ Qua đó, người có quyên có thé chủ động tiền hanh các hanh vi của mình dé tác động trực tiếp dén TSBĐ hoặc yêu cau bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nhằm thöa mãn quyên lợi của mình như một sự thay thé.
BPBD Ia công cu hữu hiệu nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, vừa bảo đảm được quyền và loi ich hợp pháp của bên có quyên, theo đó một bên sử dụng tải sản thuôc quyên sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bao dam) dé bảo đảm thực hiện nghia vu dân sự của minh hoặc của chủ thể khác (gọi là bên được bảo đảm). Theo Hướng dẫn của UNCITRAL thì giao dich bao dam là một lợi ích tai sản gắn với một tài sẵn nhật định nhằm bao dam việc thực hiện nghĩa vụ nhất định Theo pháp luật của Mỹ thi giao dich bao dam cũng là giao dich xac lap li ích bao dam. Như vậy, một cach chung nhất, về mặt khách quan, bao dam thực hiện nghia vụ được hiểu là các biện pháp do pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong biện pháp đó nhằm tao ra cơ sở pháp li để các chủ thé sử dụng khi xác lập và thực hiện nghĩa vụ dân sự nhằm đâm bao cho nghia vụ chính được thực hiện. Về mặt chủ quan, bảo đâm thực hiện nghĩa vụ được hiểu là việc thỏa thuận giữa các bên hoặc hành vi đơn phương của một bên về việc lựa chon sử dụng biện pháp dé bão dam cho việc thực hiện nghĩa vụ dan su với tính tác đông, dự phòng, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xau do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vu gây ra.
Vé bản chất pháp lí, bảo đâm thực hiên nghĩa vu là một loại công cụ trong nghia vụ dân su, khi có sự vi phạm nghĩa vụ các bên có thể tự áp dụng hoặc yêu cầu cơ quan có thầm quyền áp dung dé bao dam quyên loi cho bên có quyền. Đặc diém bảo dam thực hién nghia vu Bảo dam thực hiện nghĩa vu dân sự cho phép các chủ thé trong giao dich dân sự đặt ra các biện pháp để đảm bảo cho một nghia vụ dân sự chính được thực hiện, đông thời xác định và bao dam quyển, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó. Căn cứ vao nôi dung, tinh chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thé, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thé tham gia quan hệ ay ma mỗi một biên pháp bao dam mang một đặc điểm riêng biệt. Ngoài ra, tat cả các biện pháp bảo dim đều có các đặc điểm chung sau đây 9 Thứ nhất, các BPBĐ mang tính chat “bd sung” cho nghĩa vụ chính.
Các BPBD thực hiện nghĩa vu không tôn tại đôc lập ma luôn gắn liên với một nghĩa vụ nào đó, các bên cùng nhau thiết lập một BPBĐ nhằm mục đích cho việc thực hiện một nghia vụ chính. Nội dung, hiệu lực của BPBĐ phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vu chính. Thứ hai, các BPBĐ đêu có mục đích nâng cao trách nhiệm vả năng lực thực hiện nghia vu. Khi đặt ra BPBĐ, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghia vụ của người có nghia vụ, han chế rủi ro đạo đức (có điều kiên nhưng van không thực hiện), cũng như nâng cao năng lực thực hiện (không có điều kiên thực hiện nghĩa vụ chính theo du kiến, phải thực hiện bằng biện pháp khác thay thé) Thứ ba.
đôi tượng của các BPBĐ là những lợi ích vật chất, trị giá được bằng tiên. Lợi ích vật chat là đối tượng của các BPBĐ, là một tải sản (vật hữu hình, tiên, giấy tờ trị giá được bằng tiên, quyên tai sản, quyền sở hữu trí tuệ.) Thứ te phạm vi bao dam của các BPBĐ không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xac đính trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính. Phạm vi của bảo dam không lớn hơn phạm vi của nghĩa vu du trong thực tế bên bão dam đưa một tai sẵn có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị của nghĩa vụ được bảo dam, khi đó mục đích của việc bảo dam đó cũng chỉ là dé thực hiện nghĩa vu trong phạm vi nghia vu được bao dam đã xác định. Thứ năm, các BPBĐ chỉ được ap dụng khi có sự vi phạm ngiĩa vụ.
Cho dù các bên đã đặt ra một BPBĐ bên cạnh một nghĩa vu chính nhưng vẫn không cân áp dụng BPBĐ đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách day đủ. Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ, bên co nghia vụ tu giác thực hiện nghĩa vụ của ho đôi với người có quyển vả nêu đến thời han ma bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, day đủ nghĩa vụ của mình thi các BPBĐ nghia vụ đó cũng được coi 1a châm đứt. Chức năng dự phòng của các BPBĐ cho thay rằng chúng chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực 10 hiện không đúng nhằm qua đó bảo đảm quyên lợi cho bên có quyên. Tuy nhiên, ở đây sư kiện “vi phạm nghĩa vu” can được hiểu theo nghĩa rông, nghĩa là không chỉ vi phạm nghĩa vu chính (nghĩa vụ được bao dam), ma đó có thé la vi phạm đối với một nghĩa vụ khác cũng được bảo đảm chung bằng một tai sẵn (khoản 3 Điều 206 BLDS 2015) hoặc theo các trường hợp do các bên théa thuận (vi phạm cam kết trong quá trình xác lập) hoặc có luật quy định (khoản 3 Điều 299 BLDS 2015).
Thứ sáu, các biện pháp bao dam thực hiện nghĩa vu phát sinh từ sự thoả thuận giữa các bên hoặc hành vị đơn phương của một bên. Nếu các nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ khác nhau (các căn cứ này có thé là sự thoả thuận, có thé là do quy định của pháp luật) thì biện pháp bao dam thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể phát sinh thông qua sư thoả thuận của các bên trong một giao dịch dân sự hoặc hành vi đơn phương của một bên trong giao dich dân sự. Vì vay, có quan điểm cho rằng các biện pháp bảo dam thực hiện nghĩa vụ là những hợp đồng phụ được đất ra bên cạnh một hợp đồng chính để bao dam cho việc thực hiện hợp đông chính. Quan điểm trên còn nhiều vân đê cân tranh luận nhưng dui sao vân phải thừa nhân rằng cách thức va toan bộ nội dung của một biên pháp bao dam déu lả kết quả của sự thoả thuận giữa các bên.
Có những hợp đồng dân sự ma pháp luật quy định buộc phải có biện pháp bảo đâm (như hợp đồng cho vay mà bên cho vay là Ngân hang nhà nước) nhưng không vi thé ma mất đi sự thoä thuận giữa các bên. Dù pháp luật đã quy định phải có thê chấp của người vay nhưng người vay vẫn có quyên lựa chọn thỏa thuận dé cùng với bên cho vay xác định về nội dung của thé chấp (đối tượng của thé chap là bat đồng sản nào, phương thức xử li tài sản ra sao. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đặt cọc 1. Khái niệm đặt cọc Từ xa xưa, thuật ngữ “dat coc” được xuất hiện với góc độ la môt ngữ cảnh, thời đó khi ding tiên trong lưu thông dan su, nhân dân ta thường xâu 11 những dong tiên lại với nhau thành từng cọc.
Khi đặt trước 1 khoản tiên dé lam tin với nhau hoc thường đặt một cọc, hai cọc. tùy vào giá trị của từng giao dịch dan sự. Có lẽ đây lả tiên đê của chế định đặt cọc trong quan hệ dan sự sau nảy. Những nguyên tắc của việc đặt cọc được truyền tử miệng người này sang người khác, từ đời nay sang đời khác và người ta áp đung nó một cách phô biên vi thay nó can thiết, thuận tiện dé dam bao lòng tin cho việc thiết lập giao dich dân sự Mặc dủ không tôn tại sớm trong các quy định của pháp luật, đến PLHĐDS 1991 đặt cọc mới chính thức được pháp luật ghi nhận là một biện pháp bao dam thực hiện nghĩa vu dan sự.
Dưới góc đô ngôn ngữ: nêu tách từ “đặt cọc ” ra thành các phân nhỏ hơn dé xem xét dưới góc độ ngôn ngữ thi đặt coc là một từ ghép bao gồm từ “dar” va từ “coc”.Từ “adit” nghĩa là“đ vào vi trí thíchhop cho một việc nào đó” và từ “coc” với nghĩa là “tap hợp gồm nhiều đồng tiền xép thành hình tru“? Từ việc phân tích thuật ngữ “dat” và “coc”, khái niệm về “dat cọc “ có thé được hiểu chung lả đặt một khoản tiên để phục vu vảo việc gì do.