Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng, quy mô và chủ thể tham gia các giao dịch dân sự đòi hỏi các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp thay vì chỉ dựa vào lòng tin và sự tự giác thực hiện nghĩa vụ. Bộ luật Dân sự năm 2015 (được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24/11/2015, gồm 27 chương, 680 điều) đã tiếp cận chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dưới góc độ kết hợp hài hòa giữa vật quyền và trái quyền, quy định 09 biện pháp bảo đảm. Trong đó, đặt cọc là biện pháp truyền thống, phổ biến và có tính linh hoạt cao nhờ khả năng bảo đảm cho cả giai đoạn giao kết và giai đoạn thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật về đặt cọc bộc lộ nhiều điểm bất cập và chưa thống nhất trong nhận thức pháp lý. Điển hình là các tranh chấp liên quan đến việc xác định lỗi chủ quan hay nguyên nhân khách quan khi hợp đồng không được giao kết, cũng như việc một bên thỏa thuận mức phạt cọc gấp nhiều lần giá trị cọc nhằm mục đích trục lợi. Khóa luận tốt nghiệp "Đặt cọc theo quy định của pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Ngọc Anh được thực hiện nhằm phân tích toàn diện cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thi hành chế định này.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và nội dung quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về biện pháp đặt cọc.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng, chỉ ra các vướng mắc, thiếu sót và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật cùng cơ chế thực thi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích các khái niệm, đặc điểm pháp lý và ý nghĩa của bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và biện pháp đặt cọc nói riêng.
- Khái quát quá trình phát triển của quy định pháp luật về đặt cọc từ Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 đến Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử, xác định nguyên nhân của các vướng mắc và kiến nghị các giải pháp cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia (Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) điều chỉnh quan hệ đặt cọc; các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, luận văn, luận án và các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp thực tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Các quy định pháp luật thực định về chủ thể, đối tượng, mục đích, hình thức, quyền và nghĩa vụ, xử lý tài sản đặt cọc và thực tiễn áp dụng.
- Không gian: Biện pháp đặt cọc trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối chiếu so sánh với chuẩn mực và luật pháp quốc tế.
- Thời gian: Trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, trong tương quan so sánh với Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật dân sự qua các thời kỳ và các công trình học thuật chuyên ngành:
- Hệ thống văn bản pháp lý: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 1995, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP); Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/04/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số 17/2014/TT-NHNN; Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005; cùng các điều khoản của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 1590), Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Điều 557), Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 586, 587, 588) và Hướng dẫn lập pháp về giao dịch bảo đảm của UNCITRAL.
- Nguồn tài liệu khoa học: Các công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Mạnh Bách (1998), TS. Nguyễn Ngọc Điện (1999, 2001), ThS. Nguyễn Minh Trang (2005), PGS.TS. Đỗ Văn Đại (2012), TS. Phạm Văn Tuyết và TS. Lê Thị Giang (2015), ThS. Dương Thị Hiện (2016), cùng các bài viết chuyên san của ThS. Tưởng Duy Lương (2019), Vũ Thị Nhung (2022), Diệp Ngọc Dinh (2023).
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài để mổ xẻ các khái niệm lý luận, bản chất pháp lý của giao dịch bảo đảm, tổng hợp thực trạng quy định và đánh giá các quan điểm lập pháp.
- Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc; đồng thời đối chiếu giữa các giai đoạn lập pháp trong nước.
- Phương pháp lịch sử: Khái quát tiến trình hình thành và phát triển của chế định đặt cọc qua từng thời kỳ lịch sử xã hội Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp đặt cọc
Chương này làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và định vị vị trí pháp lý của biện pháp đặt cọc. Tác giả phân tích 06 đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm: tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính; mục đích nâng cao trách nhiệm và năng lực thực hiện; đối tượng là lợi ích vật chất trị giá được bằng tiền; phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ chính; chỉ áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ; và căn cứ xác lập xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc hành vi đơn phương.
Đối với biện pháp đặt cọc, tác giả phân tích khái niệm dưới hai góc độ:
- Góc độ ngôn ngữ: "Đặt" là đưa vào vị trí thích hợp, "cọc" là tập hợp nhiều đồng tiền xếp thành hình trụ; nghĩa chung là đặt một khoản tiền để làm tin.
- Góc độ pháp lý: Khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Tác giả chỉ ra 05 đặc điểm pháp lý đặc thù của đặt cọc:
- Chủ thể bao gồm bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc (không nhất thiết bên đặt cọc là bên có nghĩa vụ trong hợp đồng chính).
- Tài sản đặt cọc phải có tính thanh toán cao (tiền, kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác), loại trừ quyền tài sản và bất động sản.
- Mục đích đa dạng: bảo đảm giao kết, bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc mang mục đích kép.
- Thời điểm xác lập linh hoạt: có thể được xác lập trước khi hợp đồng chính hình thành.
- Tính chất bảo đảm hai chiều: bảo vệ quyền lợi của cả hai bên tham gia giao dịch; bên nào vi phạm mục đích bảo đảm đều phải gánh chịu chế tài (mất cọc hoặc phạt cọc).
| Tiêu chí phân biệt |
Đặt cọc (Điều 328 BLDS 2015) |
Cầm cố tài sản (Điều 309 BLDS 2015) |
Ký cược (Điều 329 BLDS 2015) |
| Khái niệm |
Giao tài sản trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. |
Giao tài sản thuộc quyền sở hữu để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. |
Bên thuê động sản giao tài sản cho bên cho thuê để bảo đảm trả lại tài sản thuê. |
| Chủ thể |
Bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc. |
Bên cầm cố và bên nhận cầm cố. |
Bên ký cược (bên thuê) và bên nhận ký cược (bên cho thuê). |
| Mục đích |
Bảo đảm giao kết, bảo đảm thực hiện hợp đồng, hoặc cả hai mục đích. |
Bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự chính đã xác lập. |
Bảo đảm việc hoàn trả tài sản thuê là động sản. |
| Tài sản bảo đảm |
Tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (tính thanh toán cao). |
Động sản, bất động sản, giấy tờ có giá, quyền tài sản. |
Tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. |
| Hậu quả vi phạm |
Xử lý hai chiều: Bên đặt cọc vi phạm thì mất cọc; bên nhận cọc vi phạm thì trả lại cọc và chịu phạt cọc. |
Bên có nghĩa vụ vi phạm thì tài sản cầm cố bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ. |
Xử lý một chiều: Bên thuê không trả tài sản thuê thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê. |
Khảo cứu lịch sử lập pháp cho thấy: Thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức thế kỷ XV ghi nhận điển mại tại Điều 384, bảo lãnh tại Điều 590; Bộ luật Gia Long thế kỷ XIX) và thời kỳ Pháp thuộc (Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883) chưa ghi nhận đặt cọc là một biện pháp bảo đảm độc lập. Sau năm 1945, qua thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đặt cọc lần đầu tiên được pháp điển hóa tại Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (chỉ cho phép cọc bằng tiền). Bộ luật Dân sự năm 1995 mở rộng tài sản cọc sang kim khí quý, đá quý và bắt buộc hình thức văn bản. Bộ luật Dân sự năm 2005 và 2015 tiếp tục hoàn thiện chế định này.
Khi so sánh quốc tế:
- Pháp: Điều 1590 Bộ luật Dân sự Pháp quy định về "arrhes" trong hợp đồng mua bán, coi đặt cọc là công cụ định giá cho quyền đơn phương từ bỏ lời hứa/hủy bỏ hợp đồng (bên mua mất cọc, bên bán trả gấp đôi), đề cao quyền rút lui hơn là nghĩa vụ duy trì hợp đồng.
- Nhật Bản: Điều 557 Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng gắn đặt cọc với quyền hủy bỏ hợp đồng mua bán trước khi một bên tiến hành thực hiện.
- Trung Quốc: Bộ luật Dân sự Trung Quốc (Điều 586–588) giới hạn mức tiền đặt cọc không vượt quá 20% giá trị hợp đồng chính (phần vượt quá không phát sinh hiệu lực) và cho phép đương sự lựa chọn áp dụng phạt cọc hoặc phạt vi phạm nếu có thỏa thuận trùng lặp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về đặt cọc
Chương này đi sâu phân tích 04 yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật về đặt cọc theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn:
1. Chủ thể của đặt cọc:
Bao gồm bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc, phải tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cá nhân tham gia phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp (từ đủ 15 tuổi trở lên theo quy định tại khoản 4 Điều 21; trường hợp liên quan đến bất động sản, động sản đăng ký phải có sự đồng ý của người đại diện). Pháp nhân tham gia thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.
Tác giả phân tích tính chất đặc thù của hiện tượng "đặt cọc lướt sóng" trong kinh doanh bất động sản (người nhận cọc chưa có quyền sở hữu đất nhưng nhận cọc của bên thứ ba dựa trên hợp đồng cọc đã xác lập trước đó với chủ đất). Căn cứ Điều 276 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối tượng của nghĩa vụ là tài sản hoặc công việc phải thực hiện, do đó bên nhận cọc không nhất thiết phải là chủ sở hữu tại thời điểm nhận cọc; việc thừa nhận giao dịch này đảm bảo quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp và bảo vệ quyền lợi của bên đặt cọc.
2. Đối tượng của đặt cọc:
Theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản đặt cọc bao gồm:
- Tiền: Phải là Đồng Việt Nam (VNĐ), không được sử dụng ngoại tệ theo Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005.
- Kim khí quý, đá quý: Quy định cụ thể tại Thông tư số 17/2014/TT-NHNN (vàng, bạc, bạch kim; kim cương, ruby, saphia, ngọc trai...).
- Vật có giá trị khác: Thực tiễn xét xử từng thừa nhận ô tô là tài sản đặt cọc hợp pháp (Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP).
- Quy định về sở hữu: Tài sản đặt cọc phải thuộc quyền sở hữu của bên đặt cọc hoặc được chủ sở hữu đồng ý. Điều 38 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định bên đặt cọc có nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu cho bên nhận cọc trong các trường hợp hoán đổi hoặc xử lý tài sản cọc theo thỏa thuận.
- Chức năng: Tài sản đặt cọc mang đồng thời chức năng bảo đảm (khấu trừ trọn vẹn nghĩa vụ, mang tính dự phạt khi vi phạm) và chức năng thanh toán (trở thành khoản trả trước khi hợp đồng được thực hiện).
3. Mục đích của đặt cọc:
- Bảo đảm giao kết hợp đồng: Thỏa thuận đặt cọc hình thành trước khi hợp đồng chính được xác lập. Biện pháp này mang bản chất như một "hợp đồng quyền chọn" (option contract), cho phép các bên mua bán quyền rút lui có trả phí bằng giá trị tài sản cọc.
- Bảo đảm thực hiện hợp đồng: Xác lập sau khi hợp đồng chính đã giao kết, gắn liền với các nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, trung thực tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi một bên vi phạm, tài sản cọc bị xử lý theo nguyên tắc: bên đặt cọc vi phạm thì mất cọc; bên nhận cọc vi phạm phải trả lại cọc và chịu phạt cọc một khoản tương đương giá trị tài sản cọc (trừ khi có thỏa thuận khác). Tác giả dẫn chứng Bản án số 23/2022/KDTM-PT của TAND TP. Đ... (xử lý sung công 4.000.000.000 đồng tiền cọc của Công ty B cho Ngân hàng V) và phán quyết trọng tài của VIAC về tranh chấp mua bán hàng hóa giữa công ty Thái Lan và công ty Việt Nam.
- Mục đích kép: Vừa bảo đảm giao kết vừa bảo đảm thực hiện hợp đồng, duy trì hiệu lực xuyên suốt toàn bộ quá trình xác lập và thực hiện nghĩa vụ.
4. Hình thức của đặt cọc:
Khác với Bộ luật Dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 363) và Bộ luật Dân sự năm 2005 (khoản 1 Điều 358) quy định đặt cọc bắt buộc phải lập thành văn bản, Bộ luật Dân sự năm 2015 không ràng buộc hình thức cụ thể, cho phép thỏa thuận bằng văn bản hoặc lời nói. Tuy nhiên, Điều 37 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định: nếu một bên giao cho bên kia một khoản tiền mà không xác định rõ là tiền đặt cọc hay tiền trả trước thì khoản tiền đó được coi là tiền trả trước. Do đó, việc lập văn bản xác định rõ tính chất "đặt cọc" là điều kiện tiên quyết để áp dụng chế tài phạt cọc.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đặt cọc
Dựa trên cấu trúc mục lục và nội dung mở đầu của công trình, Chương 3 tập trung đánh giá các vấn đề sau:
- Thực tiễn áp dụng: Phân tích các tranh chấp điển hình tại Tòa án liên quan đến hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất, hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài; các vướng mắc khi xác định hiệu lực của thỏa thuận đặt cọc trong trường hợp bên nhận cọc chưa đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bất cập và nguyên nhân: Sự thiếu thống nhất giữa quy định mở về hình thức trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy tắc suy đoán "tiền trả trước" tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP; khoảng trống pháp lý về mức trần phạt cọc dẫn đến tình trạng thỏa thuận mức phạt quá cao nhằm trục lợi; việc phân định lỗi hỗn hợp hoặc trở ngại khách quan (bất khả kháng) khi không tiến hành giao kết hợp đồng chính.
- Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về hình thức bắt buộc của hợp đồng đặt cọc; bổ sung cơ chế khống chế tỷ lệ trần tiền đặt cọc/mức phạt cọc (tham khảo mô hình 20% của Bộ luật Dân sự Trung Quốc); hướng dẫn chi tiết căn cứ miễn trừ nghĩa vụ phạt cọc khi xuất hiện yếu tố khách quan không do lỗi của các bên.
- Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường vai trò giải thích pháp luật và ban hành án lệ của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; nâng cao nhận thức pháp lý của người dân trong việc lập văn bản thỏa thuận đặt cọc rõ ràng, minh bạch.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy định về đặt cọc trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam từ năm 1991 đến nay. Làm rõ bản chất hai chiều của đặt cọc, chỉ ra sự chuyển biến từ quy định cứng nhắc về hình thức văn bản sang nguyên tắc tự do thỏa thuận nhưng bị giới hạn bởi các điều kiện suy đoán tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.
- Kiến nghị giải pháp: Khóa luận đưa ra 02 nhóm giải pháp cụ thể: hoàn thiện khung quy phạm pháp luật thực định (bổ sung quy định về mức trần phạt cọc, chuẩn hóa hình thức giao dịch) và nâng cao năng lực thực thi pháp luật (phát triển án lệ, nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự).
- Đóng góp khoa học: Bổ sung nguồn tài liệu phân tích chuyên sâu về biện pháp đặt cọc dưới góc độ Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản mới là Nghị định số 21/2021/NĐ-CP – một chủ đề ít được nghiên cứu hệ thống kể từ sau khi các văn bản này có hiệu lực so với các biện pháp bảo đảm khác như thế chấp hay cầm cố.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khung pháp luật dân sự thực định và các tranh chấp thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, chưa bao quát toàn diện các dạng đặt cọc đặc thù trong pháp luật chuyên ngành như đấu giá tài sản, nhà ở hình thành trong tương lai hoặc giao dịch mua bán qua sàn thương mại điện tử.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế đặt cọc trong các luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi); nghiên cứu sâu hơn về cơ chế định lượng thiệt hại thực tế trong mối tương quan so sánh với mức phạt cọc theo tập quán thương mại quốc tế.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, các luật sư, thẩm phán và chuyên viên tư vấn pháp lý:
- Phần đáng tham khảo nhất: Bảng đối chiếu phân biệt giữa đặt cọc, cầm cố và ký cược (Chương 1); phân tích bản chất pháp lý của "đặt cọc lướt sóng" và chức năng kép của tiền đặt cọc (Chương 2); chuyên đề so sánh pháp luật về chế định đặt cọc giữa Việt Nam, Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc (Chương 1).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, những loại tài sản nào được phép sử dụng để đặt cọc?
Căn cứ khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản đặt cọc bao gồm: một khoản tiền (phải là Đồng Việt Nam theo Pháp lệnh Ngoại hối), kim khí quý, đá quý (theo Thông tư số 17/2014/TT-NHNN) hoặc vật có giá trị khác (như ô tô theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC). Các tài sản là quyền tài sản và bất động sản không thuộc đối tượng của biện pháp đặt cọc.
2. Pháp luật dân sự Trung Quốc quy định giới hạn mức tiền đặt cọc như thế nào?
Theo Điều 586 Bộ luật Dân sự Trung Quốc, mức tiền đặt cọc do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20% giá trị đối tượng của hợp đồng chính; phần vượt quá 20% sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật.
3. Khi các bên giao nhận tiền nhưng không ghi rõ là "tiền đặt cọc" hay "tiền trả trước" thì khoản tiền đó được xác định như thế nào?
Theo Điều 37 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, trường hợp một bên giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này mặc nhiên được coi là tiền trả trước, chỉ mang chức năng thanh toán chứ không phát sinh chế tài phạt cọc khi vi phạm.
4. Khái niệm "arrhes" trong Bộ luật Dân sự Pháp khác biệt như thế nào so với chế định đặt cọc tại Việt Nam?
Điều 1590 Bộ luật Dân sự Pháp coi "arrhes" là khoản tiền định giá cho quyền đơn phương rút khỏi dự định giao kết hoặc hủy bỏ hợp đồng mua bán (đề cao quyền rút lui). Ngược lại, pháp luật Việt Nam đề cao mục đích bảo đảm, hướng các bên tới việc duy trì, xác lập và thực hiện nghiêm túc hợp đồng.
5. Bên nhận đặt cọc có bắt buộc phải là chủ sở hữu của tài sản trong hợp đồng chính hay không?
Không bắt buộc. Theo Điều 276 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản mua bán là đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng chính chứ không phải đối tượng trực tiếp của giao dịch đặt cọc. Do đó, người nhận cọc không nhất thiết phải là chủ sở hữu tại thời điểm nhận cọc (như trong trường hợp "đặt cọc lướt sóng"), miễn là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giao kết hoặc chuyển nhượng khi đến hạn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Anh là công trình nghiên cứu pháp lý có cấu trúc chặt chẽ, làm sáng tỏ toàn diện bản chất hai chiều và chức năng kép của biện pháp đặt cọc trong luật dân sự Việt Nam. Thông qua việc phân tích quá trình lập pháp, đối chiếu luật so sánh quốc tế và đánh giá thực tiễn thi hành theo Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, tác giả đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý còn tồn tại. Các đề xuất hoàn thiện quy định về trần phạt cọc và chuẩn hóa hình thức giao dịch mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử.