CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LÔI KÉO KHÁCH HÀNG BÁT CHÍNH VÀ PHÁP LUAT CẠNH TRANH DIEU CHỈNH HANH VI LÔI KÉO KHÁCH HÀNG BÁT CHÍNH 1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1. Khái niệm hành vỉ cạnh tranh: không lành manh Trong thời đại kinh tế thi trường phát trién như ngày nay, cạnh tranh có vai trò đặc biệt quan trong và được coi là động lực to lớn giúp thúc đây sự phát triển của mai doanh nghiép và toàn bộ nên kinh tê. C anh tranh giúp xoá bỏ độc quyên, bat hợp lý và bất bình đẳng trong kinh doanh, tuy nhién, doanh nghiệp cân biết cách nắm bat và tạo lợi thé cạnh tranh so với đối thủ dé đáp ứng tốt nhất nhu câu của khách hàng, đồng thời thu được nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Căn cứ vào tinh chat của các phương thức canh tranh, canh tranh được chia thành canh tranh lành manh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành manh là hình. thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh, Cạnh tranh không lành manh là phương thức cạnh tranh được các doanh nghiệp thực hiện bởi những cách thức không lành mạnh nhằm muc đích day canh tranh lên quá mức, 1am các hành động cạnh tranh vượt khối giới han có thé chấp nhận được của thi trường và xã hôi như xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh, ép buộc khách. hang, đối tác kinh doanh, gây rối hoạt động kinh doanh và lôi kéo khách hang bat chính,.
Cạnh tranh không lành manh có thé rhấm vào những đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp hoặc tác động vào những đối thủ cụ thé nhằm hen chê khả năng canh tranh vốn có của các đối tind, thậm chi có thé gây thiệt hại lớn đối với đôi thủ canh tranh?. Hiện nay trên thé giới có nhiều quan điểm khác nhau về canh tranh không lành: manh như sau: Trong Công ước Paris về bảo hộ quyên sở hữu công nghiệp (ký kết ngày 20/03/1883), tại Khoản2 Điều 10bis (được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được sửa đổi lần cuối theo văn bản Stockholm ném 1967) có quy định về canh tranh không ' Nguyễn Thị Vin Anh (Chủ bền, 2018), Giáo tinh Luật Conh tranh, Trường Đại học Luật Hi Nội, NXB. Công annhin dân tr 21. 2 Phimg Tuyết Chinh (2020), Héowh vi cạnh tranh khổng lành mạnh theo Luật Cạnh tranh 2018, Luận vẫn thạc sĩ Luit hoc, Trường Đại học Luật Hà Nội tr 8.
T1 lành mạnh như sau: “Bat cứ hành động nào trái với tập quan trưng thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh "2. Theo quan điểm được phần ảnh trong Luật Canh tranh Mông Cô thì “Canh ranh không lành mạnh bao gồm tắt cả hành vì nào xâm hại tới hoat đồng cạnh tranh trên thi trường xâm hai tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doamh nghiệp ”.Ý 6 quan điểm này, các hành: vi hạn chế cạnh tranh, nhất là những hành vi lem dung vị trí thông lĩnh thi trường cũng thuộc phạm trủ canh tranh không lành manht. Ngoài ra, trên thé giới cũng có nhiều quốc gia đưa ra các nguyên tắc áp dung dé nhận điện hành vi cạnh tranh không lành manh cho từng vụ việc cụ thể và khi Xây ra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh không chỉ vận dung các quy định của pháp luật ma còn vận dụng các tập quán thương mại, án lệ đã có sẵn, các học thuyết pháp lý cũng như hiểu biết chuyên môn của người áp dung pháp luật nhằm xem xét hành vi đó có được coi là “không lành menh” hay không, Như vậy, đa sô pháp luật các nước trên thé giới chưa đưa ra được định nghĩa cu thé và chi tiệt về hành vi canh tranh không lành mạnh ma chỉ nêu các yêu tô câu thành hanh vị dé nhân điện được ban chất của hành vi nay. Hơn nữa, những hành vi nhận điện đó cũng không được quy định trong Luật Cạnh tranh của các nước ma nằm rải rác ở những văn bản pháp luật chuyên ngành có những quy dinh nhân điện nhỏ lẻ khi đề cập đến hành vi canh tranh không lành mạnh trong ting lĩnh vực.
Tại Việt Nam, dinh nghĩa về canh tranh không lành mạnh đã được quy dink cu thé lần đầu tiên trong Luật Canh tranh 2004. Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình lanh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về dao đức kinh doanh, gây thiệt hai hoặc có thé gay thiệt hại đền lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hop pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu đừng ”. Vé cơ bản, định nghĩa cạnh tranh không lành manh của Luật C anh tranh 2004 có nhiéu nét tương đồng với định nghiia của Công ước Paris, tuy nhiên, định nghĩa trong Luật C anh tranh 2004 còn khá chung chung và có phạm vi áp dụng rông Việc xác định các chuân mực thông thường về dao đức kinh doanh là việc rat khó khăn trong nền kinh té thị trường ở nước ta, do đó dé khác phục cơ bản những bất cập còn tôn tại của pháp luật cạnh tranh, Quốc hội đã ban hành ` Nguyễn Thị Vin Anh, Giáo tink Luật Canh rem, thid (1), 287. + LễẢnh Tuần C008), Tháp luật về chống canlt tranh không lành menth Việt Nem , Luận in tiến sĩ Luật học, Thoa Luit,Daihoc Quoc gia Hi Nội.
8 Luật Canh tranh 2018. Theo đó, Luật Canh tranh 2018 đã đưa ra định nghia về cạnh tranh không lành manh cụ thé và chi tiệt hơn, đó là: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trải với nguyén tắc thiện chỉ, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thé gây thiệt hai đến quyển và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”. Day cũng là định nghĩa được tác giả sử dụng trong toàn bộ khoá luận này để đâm bảo có cách hiểu thông nhật vệ pháp luật canh tranh không lành manh. Đặc diém cia hành vi cạnh trank không lành manh Thứ nhất.
chit thé thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là doanh nghiệp Khoản 10 Điều4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng có tài sản, có trụ sở giao dich, được thành lập hoặc đăng lg' thành lấp theo quy đình của pháp luật nhằm muc dich lánh doanh”. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh 2018 quy định đối tượng áp đụng là doanh nghiệp có phân rộng hơn: “Tổ chức, cá nhân lạnh doanh (sau đây gọi chmg là doanh nghiệp) bao gồm ca doanh nghiệp sản xuất, cing ứng sản phẩm, dich vụ công ích. doanh nghiệp hoat động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyên nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Diệt Nam”. Như vay, doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thé là bat cứ đổi tương nao (t6 chức, cá nhân, hộ kinh doanh __) tham gia hoat động tìm kiếm lợi nhuận thường xuyên và chuyên nghiệp.
Trên phạm vi réng hơn, quy định về cạnh tranh không lành manh còn có thê áp dung đối với hành vi của các nhom doanh nghiệp hoạt động theo hiệp hội ngành, nghệ (hiép hội lương thực, hiệp hội bia rượu, nước giải khát.) và các cá nhân hành nghề tự do (bác sĩ, luật su, kiên trúc sư _). Thứ hai, muc dich thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là lợi nhuận Mục đích thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp là lợi nhuận, giảnh giật những ưu thé nhật định về phía mình trên thị trường kinh doanh. Gia tăng lợi nlưuận là mục tiêu mơi doanh nghiép hướng dén dé doanh nghiệp tôn tại va phát triển, chính vì vậy, doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh với các đổi thủ hoạt động trong cùng ngành, lĩnh vực nham thu hut khách hàng về phia mình Do đó, một số doanh nghiệp đã tìm cách thu về những khoản lợi nhuận thông qua việc thực luận hành vi canh: tranh không lành mạnh đề tiếp cận và lôi kéo khách hang một cách nhanh chong nhất. Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành manh trái với nguyễn tắc thiện chí, tring thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh Nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mai và chuẩn mực trong kinh doanh phan ánh các quan niém về văn hoá, x4 hội, đạo đức tôn tại trong một công đông nhất định, do đó sẽ có sự khác biệt cơ bản giữa các vùng miễn, quốc gia và vùng lãnh thd.
Co thé thay, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh được hình thành qua thực tiễn phát triển xã hôi, đời hỏi cơ quan xử lý về hành vi canh tranh không lành. mạnh phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc vé thi trường dé xác định một hành vi có đi ngược lại với những quy tắc xử sự chung trong kinh doanh tai một thời điểm nhất đính hay không. Nguyên tắc thiên chí, trung thực là một trong những nguyên tắc nên ting cơ bản. của hoạt động kinh doanh.
Thiện chí được hiểu là các chủ thê tham gia hoat động kinh. doanh trên thị trường phải có sự thân thiện, không chi quan tâm đến quyên va lợi ích của minh ma còn phải quan tâm đến quyền và lợi ich hợp pháp của khách hang, của chủ thé kinh doanh khác. Trung thực là cách hành xử chân thật, phan ánh đúng sự thật trong hoạt động kinh doanh, không vi mục tiêu tôi đa hoá lợi nhuận mà dùng các thủ đoạn lùa. đối đối với khách hàng và chủ thé kinh doanh khác Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miên hoặc lĩnh vực thương mai, có nôi dung rõ rang được các bên thừa nhận dé xác dinh quyền và ngliia vụ của các bên trong hoạt động thương mai’.
Đây là căn cứ để áp dung cho những trường hop pháp luật chưa quy định về một hành vi cụ thé nhưng khi hành vi nay được thực hiên đã xâm hại đến quyền cạnh tranh của các tổ chức, cá nhiên kinh doanh khác, quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và trái với tập quán kinh doanh. Các chuẩn mực khác trong kinh doanh được hiểu là những quy pham pháp luật, là thước đo chung vệ chất lương thực hiện hành vi canh tranh lành mạnh trong kinh doanh, ding dé điêu tiết các hành vi do của các doanh nghiệp theo phương hướng và mục tiêu xác định.