Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đòi hỏi phải xây dựng một thể chế bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Việc kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có ý nghĩa then chốt nhằm duy trì trật tự thị trường và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Trước đây, Luật Cạnh tranh 2004 đã tạo lập hành lang pháp lý đầu tiên, song qua thực tiễn thi hành đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đặc biệt là tình trạng quy định phân tán tại nhiều luật chuyên ngành (như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quảng cáo), dẫn đến sự chồng chéo về thẩm quyền và hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan thực thi. Nhằm khắc phục bất cập này, Luật Cạnh tranh 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2019) đã chính thức bổ sung hành vi "lôi kéo khách hàng bất chính" vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Khoản 5 Điều 45. Trên cơ sở đó, tác giả Cao Phạm Phương Linh thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Lôi kéo khách hàng bất chính theo Luật Cạnh tranh 2018 và thực tiễn áp dụng" tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Phương Thảo.
Tác giả xác định mục đích của nghiên cứu là làm rõ các vấn đề lý luận, phân tích nội dung quy định của Luật Cạnh tranh 2018 điều chỉnh hành vi lôi kéo khách hàng bất chính, khảo sát thực tiễn áp dụng, từ đó chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt được mục đích trên, khóa luận giải quyết 07 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính;
- Nghiên cứu so sánh và nêu lên một số mô hình lập pháp chống cạnh tranh không lành mạnh về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính ở một số quốc gia trên thế giới;
- Phân tích các dấu hiệu nhận biết hành vi lôi kéo khách hàng bất chính;
- Phân tích các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xử lý đối với hành vi lôi kéo khách hàng bất chính;
- Phân tích, bình luận, đánh giá thực trạng quy định của Luật Cạnh tranh 2018 và các luật chuyên ngành có liên quan khác điều chỉnh hành vi lôi kéo khách hàng bất chính;
- Khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính tại Việt Nam;
- Đưa ra các kiến nghị và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào các quy định điều chỉnh hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Luật Cạnh tranh 2018 và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành liên quan; thẩm quyền, trình tự, thủ tục khiếu nại, điều tra, xử lý và các biện pháp chế tài. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc phân tích mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh 2018 với các luật kinh tế chuyên ngành (thương mại, quảng cáo, sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng) và các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Riêng về chế tài, khóa luận tập trung đánh giá biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 75/2019/NĐ-CP và khảo sát thực tiễn áp dụng tại Việt Nam thông qua các vụ việc, số liệu báo cáo điển hình.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Khung pháp lý nền tảng bao gồm Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 10bis), Luật Cạnh tranh 2018, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Doanh nghiệp 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Quảng cáo 2012, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các nghị định hướng dẫn thi hành như Nghị định số 75/2019/NĐ-CP, Nghị định số 38/2021/NĐ-CP, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP.
Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành theo từng chương:
- Phương pháp phân tích và tiếp cận hệ thống: Áp dụng tại Chương 1 để phân tích các khái niệm, đặc điểm pháp lý của cạnh tranh không lành mạnh và hành vi lôi kéo khách hàng bất chính.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định kiểm soát hành vi lôi kéo khách hàng bất chính của Việt Nam với pháp luật Liên bang Nga (Luật Bảo vệ cạnh tranh 2006), Liên minh châu Âu (Chỉ thị 97/55/EC sửa đổi Chỉ thị 84/450/EEC), Hoa Kỳ (Tuyên bố chính sách của USFTC năm 1983, Đạo luật FTC 1914), Trung Quốc (Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh 1993), Nhật Bản (Luật Chống độc quyền), Hàn Quốc (Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh 1961, Luật Điều chỉnh độc quyền 1980) và Lào (Luật Cạnh tranh 2005 và 2015).
- Phương pháp phân tích quy phạm và bình luận pháp lý: Sử dụng tại Chương 2 nhằm mổ xẻ cấu thành hành vi vi phạm, cơ chế tố tụng cạnh tranh, phân định thẩm quyền và các loại chế tài áp dụng.
- Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp và dự báo khoa học: Sử dụng tại Chương 3 để đánh giá thực trạng vi phạm qua các báo cáo của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, các vụ việc thực tế được xử lý, từ đó dự báo xu hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế; các ấn phẩm, công trình nghiên cứu của các học giả đi trước (Đặng Vũ Huân, Phan Huy Hồng, Lê Anh Tuấn, Phạm Đức Hòa, Hồ Thị Duyên, Hoàng Thị Yến, Trần Thăng Long, Nguyễn Ngọc Hân, Đặng Quốc Chương, Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thị Thanh Trúc); các báo cáo tổng kết, công tác hậu kiểm của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính và pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hành vi lôi kéo khách hàng bất chính
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và định vị hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong hệ thống pháp luật cạnh tranh:
- Khái niệm và đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Trên cơ sở đối chiếu Điều 10bis Công ước Paris, Luật Cạnh tranh Mông Cổ, Luật Cạnh tranh 2004 (Khoản 4 Điều 3) và Luật Cạnh tranh 2018 (Khoản 6 Điều 3), tác giả chỉ ra 04 đặc điểm bản chất: (i) Chủ thể thực hiện là doanh nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả doanh nghiệp công ích, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, hiệp hội ngành nghề và cá nhân hành nghề độc lập); (ii) Mục đích hành vi hướng đến việc tìm kiếm lợi nhuận và giành ưu thế kinh doanh; (iii) Hành vi vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực đạo đức kinh doanh; (iv) Hậu quả pháp lý là gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác.
- Phân loại cạnh tranh không lành mạnh: Chia thành 03 nhóm: Nhóm hành vi lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác; Nhóm hành vi công kích hoặc cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Nhóm hành vi lôi kéo khách hàng bất chính.
- Lý luận về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính: Tác giả xác định bản chất của lôi kéo khách hàng là quyền tự do kinh doanh chính đáng, nhưng việc lạm dụng các thủ đoạn thiếu lành mạnh sẽ biến hành vi này thành "bất chính". Theo Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, hành vi này gồm 02 dạng: Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn; So sánh hàng hóa, dịch vụ cùng loại nhưng không chứng minh được nội dung. Đối tượng tác động trực tiếp của hành vi là khách hàng và người tiêu dùng, trong khi đối thủ cạnh tranh chịu thiệt hại gián tiếp do mất khách hàng và giảm doanh thu.
- Tiến trình phát triển và kinh nghiệm quốc tế: Khóa luận điểm lại quá trình lập pháp tại Việt Nam qua Luật Thương mại 1997 (Điều 192), Pháp lệnh Quảng cáo 2001, Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 trước khi được quy định khái quát tại Luật Cạnh tranh 2018. Khảo sát pháp luật các nước cho thấy: Liên bang Nga xử lý hành vi tạo sự nhầm lẫn và so sánh không trung thực tại Điều 14 Luật Bảo vệ cạnh tranh 2006; EU ban hành Chỉ thị 97/55/EC đặt điều kiện khắt khe cho quảng cáo so sánh; Hoa Kỳ kiểm soát gian dối dựa trên 03 yếu tố theo Tuyên bố của USFTC năm 1983 (hành động gây hiểu sai, nhận thức hợp lý của người tiêu dùng, tính chất tác động vật chất đến quyết định mua); Trung Quốc điều chỉnh cụ thể tại Điều 9 Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh 1993; Nhật Bản quy định tại Khoản 9 Điều 2 Luật Chống độc quyền; Hàn Quốc và Lào đều thiết lập quy định riêng về quảng cáo gian dối và so sánh bất chính.
Chương 2: Quy định pháp luật về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Luật Cạnh tranh 2018
Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện các quy phạm thực định của Luật Cạnh tranh 2018 điều chỉnh hành vi lôi kéo khách hàng bất chính:
- Dấu hiệu nhận diện hành vi đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn (Điểm a Khoản 5 Điều 45):
- Về chủ thể: Là doanh nghiệp sở hữu hàng hóa, dịch vụ tự đưa thông tin về quy mô, chất lượng, năng lực của mình. Trường hợp có bên thứ ba (đơn vị truyền thông, cơ quan báo chí, sàn thương mại điện tử) tham gia đưa tin, cơ quan cạnh tranh phải xác định mối quan hệ ủy quyền hoặc chủ trương của doanh nghiệp sở hữu để truy cứu trách nhiệm chính, còn trung gian chịu trách nhiệm liên đới.
- Về đối tượng thông tin: Gồm thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại và điều kiện giao dịch. Thực tế các doanh nghiệp hay tập trung làm sai lệch thông tin về công dụng, giá cả, xuất xứ và chất lượng.
- Về tính chất và hình thức: Tính gian dối thể hiện ở việc đưa thông tin sai sự thật khách quan (như vụ việc Công ty TNHH Thương mại mỹ phẩm Star quảng cáo các sản phẩm Some By Mi AHA BHA PHA, CC Melano, Ciracle red spot cream, Achromin, Transino có công dụng "điều trị", "đặc trị nám mụn" như thuốc chữa bệnh). Tính gây nhầm lẫn thể hiện qua việc cung cấp thông tin thiếu đầy đủ hoặc bắt chước gây hiểu sai (như vụ việc Công ty Cổ phần Tập đoàn Sunhouse dùng slogan "Đồ gia dụng hàng đầu đến từ Hàn Quốc" dù 70% sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, chỉ 30% nhập khẩu từ Hàn Quốc). Hình thức đưa tin rất đa dạng, từ quảng cáo báo đài, internet đến bao bì, tên thương mại.
- Trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh:
- Nguồn tiếp nhận thông tin vi phạm: Thu thập qua 03 nguồn theo Điều 75 và Điều 77 (tổ chức/cá nhân phát hiện thông báo; Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tự phát hiện; hồ sơ khiếu nại của bên bị xâm hại với thời hiệu khiếu nại là 03 năm).
- Thụ lý và thẩm tra hồ sơ: Trong 07 ngày làm việc, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia kiểm tra tính hợp lệ; thời hạn xem xét bổ sung hồ sơ là 15 ngày, bên khiếu nại có tối đa 30 ngày để bổ sung (được gia hạn một lần không quá 15 ngày) theo Điều 78.
- Điều tra vụ việc: Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra (thời hạn 60 ngày, vụ việc phức tạp được gia hạn một lần không quá 45 ngày theo Điều 80). Quá trình điều tra bao gồm lấy lời khai (Điều 83, 84), đình chỉ điều tra (Điều 87), khôi phục điều tra với thời hạn 04 tháng (Điều 88) hoặc chuyển hồ sơ hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm (Điều 85).
- Xử lý và giải quyết khiếu nại quyết định: Sau kết luận điều tra, trong 15 ngày, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định xử lý hoặc yêu cầu điều tra bổ sung trong 30 ngày (Điều 90). Thời hạn khiếu nại quyết định xử lý là 30 ngày (Điều 96); thụ lý trong 10 ngày (Điều 98); thời hạn giải quyết khiếu nại là 30 ngày, gia hạn không quá 45 ngày (Điều 100). Nếu không đồng ý, tổ chức/cá nhân có quyền khởi kiện ra Tòa án cấp tỉnh theo Luật Tố tụng hành chính trong thời hạn 30 ngày (Điều 103).
- Hệ thống chế tài xử lý:
- Chế tài hành chính: Căn cứ Luật Cạnh tranh 2018 (Điều 110) và Điều 20 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP, áp dụng mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng; phạt gấp hai lần nếu vi phạm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên; hình thức bổ sung gồm tịch thu tang vật, tịch thu lợi nhuận thu được; biện pháp khắc phục gồm buộc cải chính công khai, loại bỏ yếu tố vi phạm.
- Chế tài dân sự: Dẫn chiếu quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015. Tác giả lưu ý gánh nặng chứng minh thiệt hại thực tế rất phức tạp khiến quyền lợi doanh nghiệp bị xâm hại khó được bù đắp kịp thời.
- Chế tài hình sự: Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 không xử lý hình sự hành vi cạnh tranh không lành mạnh chung, nhưng hành vi đưa thông tin gian dối có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội quảng cáo gian dối theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015 (phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm).
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực thi Luật Cạnh tranh 2018 về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính
Chương 3 phân tích thực trạng vi phạm trên thị trường và những xung đột pháp lý, từ đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện:
- Thực tiễn áp dụng và các vụ việc điển hình:
- Đưa thông tin gian dối: Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) phát hiện các đơn vị phân phối quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe Viên Gout Tâm Bình và Đại tràng Tâm Bình (Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Dược phẩm Tâm Bình) trên internet có tác dụng như thuốc chữa bệnh. Năm 2018, vụ việc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Mumuso Việt Nam bị điều tra khi kinh doanh 2.273 loại hàng hóa thì có đến 2.257 loại (chiếm 99,33%) nhập từ Trung Quốc nhưng lại treo biển hiệu "Mumuso; giá chỉ từ 22 000 KOREA" và in chữ "Korea" trên bao bì nhằm gian dối xuất xứ.
- Đưa thông tin gây nhầm lẫn: Điển hình là tình trạng quảng cáo thiết bị điện tử có tính năng ngăn ngừa, ức chế hoặc diệt virus Covid-19 trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát, đánh vào tâm lý người tiêu dùng để chèo kéo khách hàng.
- So sánh không chứng minh được nội dung: Các doanh nghiệp đưa ra tiêu chí so sánh ngầm hoặc trực tiếp về công dụng, giá cả mà không xuất trình được chứng cứ kiểm định hợp pháp.
- Những bất cập, vướng mắc pháp lý và thực thi:
- Thiếu tính đồng bộ giữa Luật Cạnh tranh 2018 với Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Chế tài xử phạt phân tán, có sự chênh lệch lớn giữa các văn bản quy định xử phạt vi phạm hành chính, dẫn đến việc lựa chọn căn cứ áp dụng thiếu nhất quán.
- Năng lực cán bộ và sự phối hợp giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia với các cơ quan quản lý chuyên ngành còn lỏng lẻo.
- Giải pháp đề xuất: Hoàn thiện chế tài xử lý (nâng mức phạt tiền, chuẩn hóa quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực cạnh tranh); Tăng cường phối hợp liên ngành trong thanh tra, hậu kiểm; Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ điều tra viên; Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu và quy định pháp luật:
- Hệ thống hóa toàn diện các dấu hiệu cấu thành pháp lý của hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Điểm a và Điểm b Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, chỉ rõ ranh giới pháp lý giữa hành vi cạnh tranh hợp pháp với hành vi vi phạm chuẩn mực kinh doanh.
- Xây dựng bảng so sánh, tổng hợp sự chênh lệch về mức chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi tương tự giữa các văn bản pháp luật hiện hành:
| Văn bản quy phạm pháp luật |
Nhóm hành vi quy định |
Khung mức phạt tiền áp dụng |
Biện pháp bổ sung / Khắc phục hậu quả |
| Nghị định số 75/2019/NĐ-CP (Điều 20) |
Lôi kéo khách hàng bất chính (đưa tin gian dối, gây nhầm lẫn, so sánh không chứng minh) |
Từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (nhân đôi nếu vi phạm từ 02 tỉnh, thành phố trở lên) |
Tịch thu tang vật, phương tiện; tịch thu lợi nhuận; buộc cải chính công khai; loại bỏ yếu tố vi phạm |
| Nghị định số 38/2021/NĐ-CP (Điều 34) |
Quảng cáo so sánh trực tiếp / Quảng cáo không đúng, gây nhầm lẫn về chất lượng, công dụng |
Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng (so sánh trực tiếp); từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng (gây nhầm lẫn) |
Buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc cải chính thông tin |
| Nghị định số 98/2020/NĐ-CP (Điều 33, Điều 34) |
Khuyến mại không trung thực, gây nhầm lẫn / Trưng bày, giới thiệu hàng hóa đối thủ để so sánh |
Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (khuyến mại gian dối); từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (so sánh hàng hóa) |
Buộc hủy bỏ chương trình khuyến mại; buộc thu hồi hàng hóa vi phạm |
- Minh chứng thực trạng vi phạm thông qua phân tích số liệu thực tế từ vụ việc Mumuso Việt Nam (2.257/2.273 sản phẩm chiếm 99,33% nhập từ Trung Quốc nhưng gắn mác Korea) và các vụ việc sai phạm quảng cáo dược phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe (Tâm Bình, Star).
- Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước: Nếu như các công trình trước đây của Phan Huy Hồng (2007), Phạm Đức Hòa (2014) hay Hồ Thị Duyên (2015) chỉ nghiên cứu hành vi quảng cáo so sánh hoặc quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh dưới thời Luật Cạnh tranh 2004; hoặc các nghiên cứu của Trần Thăng Long, Nguyễn Ngọc Hân (2019), Nguyễn Kim Anh (2020) mới tiếp cận ở mức độ khái quát giai đoạn đầu Luật Cạnh tranh 2018 có hiệu lực, thì khóa luận của tác giả Cao Phạm Phương Linh đã phân tích chuyên sâu mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh 2018 và hệ thống các văn bản xử phạt hành chính mới nhất (Nghị định 75/2019/NĐ-CP, Nghị định 98/2020/NĐ-CP, Nghị định 38/2021/NĐ-CP), cung cấp cái nhìn đồng bộ cả về lý luận, kỹ thuật lập pháp và thực tiễn xử lý vụ việc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và thời điểm thực hiện:
- Về phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khía cạnh xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 75/2019/NĐ-CP, chưa đi sâu đánh giá toàn diện cơ chế khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng đối với hành vi lôi kéo khách hàng bất chính tại Tòa án.
- Về nguồn dữ liệu thực tiễn: Do Luật Cạnh tranh 2018 và mô hình Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia mới đi vào vận hành thực tế trong thời gian chưa dài, số lượng vụ việc cạnh tranh về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính được cơ quan cạnh tranh điều tra và ban hành quyết định xử lý chính thức còn hạn chế, nguồn số liệu thực tiễn chủ yếu dựa trên các vụ việc xử lý trung gian hoặc phối hợp kiểm tra từ các cơ quan chuyên ngành khác (Cục An toàn thực phẩm, cơ quan quản lý thị trường).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp tố tụng giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và Tòa án trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại; nghiên cứu các dạng hành vi lôi kéo khách hàng bất chính phát sinh trên môi trường kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ học tập, nghiên cứu và thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Cạnh tranh: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc chặt chẽ, làm sáng tỏ các dấu hiệu cấu thành pháp lý của hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, đồng thời hỗ trợ tài liệu học tập phần tố tụng cạnh tranh.
- Đối với cán bộ pháp chế doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Cung cấp thông tin đối chiếu giữa các nghị định xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 75/2019/NĐ-CP, Nghị định 38/2021/NĐ-CP, Nghị định 98/2020/NĐ-CP), giúp nhận diện và phòng ngừa rủi ro pháp lý khi triển khai các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại, so sánh sản phẩm trên thị trường.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa quy trình, thời hạn điều tra, xử lý khiếu nại vụ việc cạnh tranh tại Chương 2 và phần phân tích xung đột quy định xử phạt vi phạm hành chính giữa các luật chuyên ngành tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận xác định hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Luật Cạnh tranh 2018 gồm những hình thức nào?
Căn cứ Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, hành vi lôi kéo khách hàng bất chính gồm 02 hình thức: (i) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác; (ii) So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung.
Thời hạn điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính được quy định là bao lâu?
Theo quy định tại Điều 80 Luật Cạnh tranh 2018 được phân tích trong Chương 2, thời hạn điều tra vụ việc là 60 ngày kể từ ngày ra quyết định điều tra. Đối với vụ việc phức tạp, thời hạn điều tra có thể được gia hạn một lần nhưng không quá 45 ngày, và việc gia hạn phải được thông báo cho bên bị điều tra chậm nhất 07 ngày làm việc trước khi hết hạn.
Mức xử phạt hành chính đối với hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Nghị định số 75/2019/NĐ-CP là bao nhiêu?
Theo Điều 20 Nghị định số 75/2019/NĐ-CP, hành vi lôi kéo khách hàng bất chính bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với tổ chức. Mức phạt sẽ tăng gấp hai lần nếu hành vi vi phạm được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
Khóa luận dẫn chứng vụ việc thực tế nào về hành vi đưa thông tin gian dối về xuất xứ hàng hóa?
Khóa luận phân tích vụ việc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Mumuso Việt Nam năm 2018. Doanh nghiệp này kinh doanh 2.273 loại hàng hóa, trong đó 2.257 loại (tương đương 99,33%) nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng lại sử dụng biển hiệu quảng cáo "Mumuso; giá chỉ từ 22 000 KOREA" và in chữ "Korea" trên bao bì túi đựng để khách hàng nhầm tưởng hàng hóa có nguồn gốc Hàn Quốc.
Trách nhiệm hình sự có áp dụng trực tiếp đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Bộ luật Hình sự không?
Theo phân tích tại Chương 2 của khóa luận, Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh chỉ áp dụng đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, không xử lý hình sự đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, nếu hành vi lôi kéo khách hàng bất chính có đủ yếu tố cấu thành hành vi quảng cáo gian dối thì chủ thể vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015 về Tội quảng cáo gian dối.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Phạm Phương Linh đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các dấu hiệu pháp lý nhận diện hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018. Thông qua việc phân tích thực trạng thực thi và các vụ việc điển hình trên thị trường, công trình đã chỉ ra những điểm xung đột, chồng chéo về mức xử phạt hành chính giữa Luật Cạnh tranh với các luật chuyên ngành liên quan. Những kiến nghị hoàn thiện chế tài và cơ chế phối hợp quản lý được đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh tại Việt Nam.