Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đóng vai trò duy trì sự cân bằng giữa khu vực sản xuất - kinh doanh và quyền lợi của bên yếu thế. Sự bùng nổ của nền kinh tế số, các giao dịch thương mại điện tử và quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam thúc đẩy nhu cầu thu thập, khai thác thông tin cá nhân của người tiêu dùng phục vụ quản trị quan hệ khách hàng (CRM), cá nhân hóa sản phẩm và tiếp thị. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm bảo mật thông tin diễn biến phức tạp; vấn nạn rò rỉ, mua bán trái phép dữ liệu khách hàng diễn ra công khai trên các nền tảng mạng (điển hình là các website chuyên rao bán tập dữ liệu như datakhachhang.net, danhsachkhachhang.com, danhsachkhachhang.biz, cungcapdata... với mức giá từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng).

Trước thực trạng các quy định cũ còn phân tán, thiếu tính hệ thống và chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024) nhằm đổi mới thể chế và tạo khung pháp lý điều chỉnh toàn diện các giao dịch trong môi trường số. Do Luật mới ban hành còn ít công trình nghiên cứu chuyên sâu, đề tài "Thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thông tin người tiêu dùng cũng như hoạt động thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; từ đó đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận về thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng theo pháp luật hiện hành.
  2. Làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng.
  3. Đưa ra giải pháp để hoàn thiện, đề xuất giải pháp để thực thi pháp luật về thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng một cách hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng tại Việt Nam.
  • Phạm vi lý luận: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An ninh mạng năm 2018, cùng một số văn bản pháp luật quốc tế (EU, Pháp, Úc, Trung Quốc, Singapore).
  • Phạm vi thực tiễn: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, tình hình vi phạm và xử lý vi phạm liên quan đến dữ liệu người tiêu dùng tại Việt Nam.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và cơ sở lý luận áp dụng

Đề tài dựa trên nền tảng lý luận về bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư và quyền của bên yếu thế trong quan hệ tiêu dùng. Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ đối chiếu gồm:

  • Văn bản pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, 2015; Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi 2009), 2015; Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và năm 2023; Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và năm 2023; Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Nghị định 52/2013/NĐ-CP; Nghị định 13/2023/NĐ-CP; Nghị định 15/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP); Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP).
  • Văn bản và điều ước quốc tế: Quy định bảo vệ dữ liệu chung của Liên minh Châu Âu (GDPR 2016/679); Chỉ thị (EU) 2016/680; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân của Singapore (PDPA 2012, sửa đổi 2020); Luật về Quyền riêng tư của Úc (Privacy Act 1988); Luật An ninh mạng Trung Quốc năm 2016; Hiệp định CPTPP (Điều 14.1); Bộ nguyên tắc của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp tổng hợp: Tìm kiếm, hệ thống hóa các quy định pháp luật và tài liệu lý luận trong nước, quốc tế về thông tin người tiêu dùng.
  • Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải: Đi sâu làm rõ bản chất quy phạm, giải thích nội dung các điều luật thực định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh và quyền của người tiêu dùng.
  • Phương pháp so sánh, đánh giá: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, so sánh giữa Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 với Nghị định 13/2023/NĐ-CP và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới nhằm xác định khoảng trống pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan pháp luật về thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, vai trò của thông tin người tiêu dùng và phân tích tiến trình lập pháp cùng kinh nghiệm quốc tế:

  1. Hệ thống khái niệm:

    • Người tiêu dùng (NTD): Được tiếp cận dưới góc độ kinh tế (người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vào mục đích phi thương mại) và góc độ pháp lý. Khóa luận đối chiếu pháp luật nhiều quốc gia: EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc chỉ công nhận thể nhân; Đài Loan, Ấn Độ, Hàn Quốc công nhận cả pháp nhân; Thái Lan mở rộng tới đối tượng được chào hàng. Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định NTD là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại.
    • Thông tin của người tiêu dùng: Đối chiếu Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 với Khoản 1 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Thông tin NTD là một bộ phận của dữ liệu cá nhân, gắn liền với các hoạt động giao dịch, mua sắm và hành vi duyệt web (qua cookie, pixel, dấu vân tay thiết bị, Big Data).
  2. Vai trò của thông tin NTD: Đối với doanh nghiệp, dữ liệu là nền tảng quản trị quan hệ khách hàng (CRM), hỗ trợ cá nhân hóa trải nghiệm và tối ưu hóa chi phí tiếp thị. Đối với NTD, cung cấp thông tin là điều kiện tiên quyết để xác lập giao dịch trực tuyến và hợp đồng điện tử.

  3. Tiến trình phát triển pháp luật Việt Nam:

    • Trước năm 1999: Bảo vệ gián tiếp quyền bí mật đời tư theo Bộ luật Dân sự năm 1995.
    • Giai đoạn 1999 - 2010: Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 ra đời nhưng chưa quy định cụ thể về bảo vệ dữ liệu thông tin; quy định rải rác trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006.
    • Giai đoạn 2010 - 2023: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 lần đầu tiên dành Điều 6 quy định quyền bảo vệ thông tin; các văn bản bổ trợ gồm Nghị định 52/2013/NĐ-CP, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018.
    • Giai đoạn từ năm 2023 đến nay: Sự phối hợp đồng bộ giữa Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (Điều 15 đến Điều 20), Nghị định 13/2023/NĐ-CP và Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
  4. Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:

Quốc gia / Khu vực Văn bản nòng cốt Cơ quan quản lý đặc thù Cơ chế chế tài & Điểm nổi bật
Liên minh Châu Âu (EU) Quy định Bảo vệ dữ liệu chung (GDPR 2016/679); Chỉ thị 2016/680 Cơ quan bảo vệ dữ liệu quốc gia của từng thành viên Bảo vệ dữ liệu từ giai đoạn thiết kế và mặc định; quyền được lãng quên; thời hạn xử lý yêu cầu là 01 tháng (gia hạn tối đa thêm 01 tháng).
Cộng hòa Pháp Luật số 78-17 (sửa đổi bởi Luật số 2018-493); Sắc lệnh 2018-1125 CNIL (Ủy ban Quốc gia về Tin học và Quyền tự do) Nội luật hóa GDPR, kiểm soát nghiêm ngặt xử lý dữ liệu tự động.
Úc Privacy Act 1988; Bộ nguyên tắc quyền riêng tư (APPs) Ủy ban Bảo vệ sự riêng tư (The Privacy Commissioner) Quy chuẩn TPP bắt buộc tính công khai, minh bạch của cơ quan công quyền và tư nhân khi xử lý dữ liệu.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Luật An ninh mạng năm 2016; Tiêu chuẩn Quốc gia năm 2012 Cơ chế phân tán (Bộ Công nghiệp & CNTT, Cục Quản lý Nhà nước về CN&TM...) Xử lý dữ liệu trực tuyến; áp dụng chế tài hành chính, tước giấy phép và truy cứu trách nhiệm hình sự.
Singapore Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (PDPA 2012, sửa đổi 2020) Ủy ban Bảo vệ dữ liệu cá nhân (PDPC) Phạt vi phạm lên tới 10% doanh thu hàng năm; dịch vụ "Danh sách không gọi" (DNC); án phạt kỷ lục vụ rò rỉ dữ liệu y tế SingHealth (250.000 SGD) và IHIS (750.000 SGD).

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin của người tiêu dùng

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định và chỉ ra các vướng mắc, khoảng trống trong quy định hiện hành:

  1. Các chủ thể có trách nhiệm: Gồm 3 nhóm chủ thể chính: Tổ chức, cá nhân kinh doanh; Người tiêu dùng; Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông).

  2. Hệ thống nghĩa vụ bảo vệ thông tin người tiêu dùng:

    • Nghĩa vụ xây dựng quy tắc, chính sách bảo vệ thông tin (Điều 16 Luật năm 2023, Điều 69 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, Điều 16 Luật ATTT mạng 2015): Phải niêm yết công khai tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử/ứng dụng 04 nội dung bắt buộc: mục đích, phạm vi sử dụng, thời hạn lưu trữ, biện pháp bảo đảm an toàn.
    • Nghĩa vụ thông báo khi thu thập, sử dụng (Điều 17 Luật năm 2023): Phải thông báo rõ ràng, công khai và được NTD đồng ý trước khi thực hiện. Quy định các ngoại lệ không cần sự đồng ý trước: thông tin đã được NTD công khai; thu thập để thực hiện hợp đồng mua bán/cung cấp dịch vụ trong phạm vi NTD đã đồng ý; thực hiện nghĩa vụ theo luật định.
    • Nghĩa vụ sử dụng thông tin (Điều 18 Luật năm 2023): Phải sử dụng đúng mục đích đã thông báo. Thiết lập cơ chế cho phép NTD lựa chọn có hoặc không đồng ý khi chuyển giao cho bên thứ ba hoặc sử dụng thông tin để gửi quảng cáo, tiếp thị thương mại.
    • Nghĩa vụ bảo đảm an toàn, an ninh thông tin (Điều 19 Luật năm 2023): Phải áp dụng biện pháp kỹ thuật, quản lý ngăn chặn truy cập trái phép. Khi xảy ra sự cố tấn công mạng làm mất an toàn thông tin, bên kinh doanh phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện.
    • Nghĩa vụ kiểm tra, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ và chuyển giao (Điều 20 Luật năm 2023): Cung cấp công cụ để NTD tự chỉnh sửa, cập nhật hoặc thực hiện theo yêu cầu của NTD; hủy bỏ thông tin khi hết thời hạn lưu trữ thỏa thuận.
  3. Phân loại hành vi vi phạm và chế tài xử lý:

    • 3 nhóm hành vi vi phạm: (i) Nhóm hành vi thu thập, lưu trữ, sử dụng, chuyển giao trái phép; (ii) Nhóm hành vi không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin; (iii) Nhóm hành vi vi phạm trách nhiệm công bố cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp.
    • Chế tài xử phạt vi phạm hành chính: Cơ sở xử phạt dựa trên Nghị định 15/2020/NĐ-CP (lĩnh vực bưu chính, viễn thông, CNTT) và Nghị định 98/2020/NĐ-CP (lĩnh vực thương mại, bảo vệ quyền lợi NTD). Điều 46 Nghị định 98/2020/NĐ-CP áp dụng phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thu thập, sử dụng trái phép thông tin NTD; phạt gấp đôi nếu thông tin liên quan thuộc bí mật cá nhân.
[Điều 16]          [Điều 17]          [Điều 18]          [Điều 19]          [Điều 20]
Xây dựng chính     Thông báo & xin    Sử dụng đúng       Bảo đảm an ninh;   Kiểm tra, sửa đổi,
sách bảo vệ        ý kiến trước khi   mục đích; tách     thông báo sự cố    hủy bỏ, chuyển giao
(4 nội dung)       thu thập           biệt quảng cáo     trong 24 giờ       theo yêu cầu
  1. Bất cập, hạn chế pháp lý phát hiện từ thực tiễn:
    • Thiếu đồng bộ giữa các luật: Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 quy định trách nhiệm thông báo cho chủ thể sau khi hủy bỏ thông tin, trong khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và Nghị định 13/2023/NĐ-CP không quy định thủ tục thông báo xác nhận này, gây lúng túng khi áp dụng.
    • Chế tài hành chính chưa bao quát: So với 18 hành vi xử lý dữ liệu cá nhân tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, Nghị định 15/2020/NĐ-CP và Nghị định 98/2020/NĐ-CP mới chỉ chế tài các hành vi thu thập, phát tán mà bỏ sót nhiều hành vi như truy xuất, mã hóa, giải mã, sao chép trái phép, vi phạm xử lý dữ liệu thu được từ ghi âm/ghi hình công cộng hoặc dữ liệu của người mất tích, đã chết.

Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu thập, bảo quản, sử dụng thông tin của người tiêu dùng

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp cụ thể:

  1. Định hướng hoàn thiện: Xây dựng khung pháp lý bảo vệ dữ liệu người tiêu dùng thống nhất, tương thích với các cam kết quốc tế trong EVFTA, CPTPP và các công ước quốc tế; cân bằng giữa bảo vệ quyền cá nhân và thúc đẩy kinh tế số.
  2. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Khắc phục các xung đột, quy định thống nhất nghĩa vụ phản hồi thông báo khi thực hiện quyền sửa đổi, hủy bỏ dữ liệu giữa Luật An toàn thông tin mạng và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
    • Bổ sung, sửa đổi Nghị định 15/2020/NĐ-CP và Nghị định 98/2020/NĐ-CP nhằm bổ sung đầy đủ các hành vi vi phạm xử lý dữ liệu tương thích với Nghị định 13/2023/NĐ-CP; nâng mức xử phạt hành chính đối với các doanh nghiệp cố tình trục lợi từ mua bán thông tin.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Nâng cao nhận thức, trách nhiệm: Tuyên truyền thói quen đọc kỹ chính sách bảo mật cho NTD; buộc doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình quản trị nội bộ.
    • Kiểm tra, giám sát: Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công an (A05), Bộ Công Thương (Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) và Bộ Thông tin và Truyền thông trong hoạt động thanh tra chuyên ngành không gian mạng.
    • Phát triển hạ tầng công nghệ: Đầu tư hạ tầng kỹ thuật số, áp dụng giải pháp bảo mật nâng cao để phát hiện và ngăn chặn tấn công đánh cắp dữ liệu.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận: Phân định rõ ranh giới pháp lý giữa khái niệm "Thông tin người tiêu dùng" (Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023) và "Dữ liệu cá nhân" (Nghị định 13/2023/NĐ-CP), khẳng định thông tin người tiêu dùng là phân vùng dữ liệu đặc thù gắn liền với quan hệ giao dịch thương mại.
  • Phát hiện những khoảng trống pháp luật thực định: Chỉ ra sự thiếu tương thích về quy trình thông báo hủy dữ liệu giữa Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Điều 20 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; chỉ rõ sự thiếu hụt của các chế tài xử phạt hành chính tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP đối với các hành vi truy xuất, mã hóa, sao chép trái phép dữ liệu.
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế: Đưa ra các cứ liệu thực chứng từ mô hình quản lý tập trung qua Ủy ban PDPC của Singapore, chế tài tính theo % doanh thu hàng năm và giải pháp kỹ thuật danh sách "Không gọi" (DNC) nhằm áp dụng cho thực tiễn phòng chống tiếp thị quấy rối tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận được thực hiện ngay tại thời điểm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 vừa được ban hành và chuẩn bị có hiệu lực thi hành, do đó nguồn số liệu thực tiễn về công tác xét xử, xử phạt vi phạm hành chính trực tiếp theo các điều khoản mới (Điều 15 - Điều 20) của Luật năm 2023 chưa có bề dày thực chứng dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi thực tiễn thi hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 khi đi vào đời sống; nghiên cứu mối quan hệ giữa Luật này với dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân chuyên biệt trong tương lai; đánh giá hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giảng viên nghiên cứu pháp luật kinh tế số; cán bộ pháp chế tại các doanh nghiệp thương mại điện tử, tổ chức tín dụng, công ty công nghệ.
  • Nội dung giá trị: Bảng phân tích đối chiếu nghĩa vụ của doanh nghiệp theo Điều 16 đến Điều 20 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; hệ thống hóa các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ thông tin cá nhân và dữ liệu thương mại điện tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "Thông tin của người tiêu dùng" theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 được quy định gồm những thành phần nào?

Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, thông tin của người tiêu dùng bao gồm thông tin cá nhân của người tiêu dùng, thông tin về quá trình mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng và các thông tin khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh được phép thu thập thông tin người tiêu dùng mà không cần có sự đồng ý trước trong các trường hợp nào?

Căn cứ Khoản 2, Khoản 3 Điều 17 và Điều 18 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, các trường hợp ngoại lệ gồm: (i) Thu thập thông tin đã được người tiêu dùng công khai; (ii) Thu thập, sử dụng thông tin để bán, cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của người tiêu dùng và chỉ trong phạm vi thông tin người tiêu dùng đã đồng ý; (iii) Thu thập, sử dụng để thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

3. Khi xảy ra sự cố hệ thống bị tấn công làm mất an toàn thông tin người tiêu dùng, bên kinh doanh phải báo cáo cơ quan nhà nước trong bao lâu?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc bên lưu trữ thông tin liên quan có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện sự cố và áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn.

4. Khóa luận dẫn chứng bài học xử phạt rò rỉ dữ liệu y tế nào từ cơ quan quản lý Singapore (PDPC)?

Khóa luận viện dẫn vụ việc Ủy ban Bảo vệ dữ liệu cá nhân Singapore (PDPC) ra quyết định xử phạt Hệ thống liên thông dữ liệu y tế (IHiS) 750.000 SGD và Trung tâm y tế SingHealth 250.000 SGD do không triển khai đầy đủ các biện pháp bảo mật, dẫn đến việc tin tặc đánh cắp dữ liệu cá nhân của 1,5 triệu bệnh nhân, đánh dấu mức phạt kỷ lục trong khu vực công của Singapore.

5. Khóa luận chỉ ra điểm mâu thuẫn nào giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 về quyền xóa bỏ dữ liệu?

Điểm không nhất quán nằm ở nghĩa vụ thông báo xác nhận: Điều 18 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 quy định sau khi xóa/hủy bỏ thông tin theo yêu cầu của chủ thể thì tổ chức phải thông báo cho chủ thể thông tin biết, trong khi Điều 20 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và các văn bản liên quan không đặt ra nghĩa vụ thông báo xác nhận này, tạo ra sự thiếu đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hà Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin người tiêu dùng tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các quy định mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đặt trong mối tương quan với Nghị định 13/2023/NĐ-CP và kinh nghiệm pháp luật quốc tế, tác giả đã chỉ rõ những điểm tiến bộ cũng như các khoảng trống pháp lý còn tồn tại. Các định hướng và giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong công trình mang tính thực tiễn cao, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho công tác lập pháp và hoạt động thực thi bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong kỷ nguyên số.