Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SOÁT CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Bảo đảm thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm thực hiện quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố Để tìm hiểu quyền công tố là gì, thì trước tiên cần hiểu “Công tố” là gì? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư” [62, tr.453], còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người” [62, tr.459]; “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [62, tr.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "quyền công tố" chính thức được ghi nhận lần đầu tiên về mặt hiến định trong Hiến pháp năm 1980 (Điều 138) và sau đó là Hiến pháp năm 1992 (Điều 137) [19, 20]; ngoài ra, cụm từ này còn được đề cập trong BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 (Điều 23); Điều 20 BLTTHS năm 2015 [30]; Luật Tổ chức VKSND năm 1981 (Điều 1- 3) [21] ; Luật tổ chức VKSND năm 1992 (các Điều 15-16) [22]; Luật tổ chức VKSND năm 2002 (Điều 1, 3, 12, 13,16,17, 19) [23]; Luật tổ chức VKSND năm 2014 (Điều 2, 3) [27]. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có văn bản của Nhà nước ta (từ UBTV Quốc hội đến VKSNDTối cao) chính thức giải thích nội dung của quyền công tố. Quan điểm cho rằng: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta 7 là Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Để làm được điều này, cơ quan có chức năng THQCT phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa [37, tr. Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm này về khái niệm quyền công tố, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này đã khẳng định được QCT là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước để buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm xâm hại trật tự chung của xã hội và nó chỉ có trong lĩnh vực hình sự.
Thứ hai, quan điểm cũng thừa nhận QCT gắn liền với quyền tài phán của Tòa án. Đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra tòa và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, không có nghĩa cứ phải đưa được người phạm tội ra tòa mới là thực hành QCT. Trên thực tế, QCT có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi đối tượng tác động của QCT có đủ căn cứ để triệt tiêu.
Thứ ba, quan điểm cũng thừa nhận quyền công tố chỉ có thể do một cơ quan thực hiện và độc lập với cơ quan tài phán (ở Việt Nam thực hiện quyền này là Viện kiểm sát). Thứ tư, quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, cụ thể là: Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII khẳng định: “Tập trung làm tốt chức năng công tố, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời” [11, tr.38]; 8 Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [12, tr.51]; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” [14]; Đặc biệt, Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh “Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [3,tr. Như vậy, chức năng THQCT từ trước đến nay vẫn luôn được giao cho VKSND thực hiện. Từ những ý kiến phân tích như trên tác giả đi đến kết luận: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng do Bộ luật tố tụng hình sự qui định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Quyền này theo Hiến pháp 2013 được giao cho Viện kiểm sát nhân dân để phát hiện tội phạm, truy cứu TNHS đối với người phạm tội ra trước Toà án. Khái niệm thực hiện quyền công tố Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội do chính hành vi phạm tội làm phát sinh. Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Quốc hội đã ban hành pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Các quyền năng đó được giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì cơ quan đó được coi là thực hiện quyền công tố. Theo pháp luật nước ta, thuật ngữ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1980 khi quy định về chức năng của 9 Viện kiểm sát nhân dân [19]. Từ đó đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 [20], Điều 107 Hiến pháp năm 2013 [26], Điều 20 BLTTHS năm 2015 [30]. Như vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát vẫn được giữ nguyên.
Hay nói cách khác, chủ thể của việc thực hành quyền công tố theo quy định của nước ta là Viện kiểm sát nhân dân. Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi giai đoạn có tính độc lập tương đối nhưng liên quan chặt chẽ với nhau. Mỗi giai đoạn thể hiện một nội dung nhất định của hoạt động tố tụng và giai đoạn tố tụng trước là tiền để cho giai đoạn tố tụng tiếp theo; giai đoạn tố tụng sau kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của giai đoạn trước đó nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, sai lầm của giai đoạn trước và tạo thành một quá trình tố tụng thống nhất và hoàn chỉnh. Theo pháp luật TTHS nước ta, VKS thực hiện các hành vi tố tụng thuộc nội dung của quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử).
Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau. Như vậy, thực hành quyền công tố là quá trình hiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng các quyền năng tương ứng mà Nhà nước trao cho một cơ quan nhất định. Từ những nội dung nêu trên có thể hiểu: Thực hiện quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Khái niệm bảo đảm thực hiện quyền công tố 10 Theo từ điển Tiếng Việt, bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.
Công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Thực hiện quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Bảo đảm về chính trị, bảo đảm về kinh tế, bảo đảm về pháp luật. Đối tượng của thực hiện quyền công tố Với quan điểm coi QCT là đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm pháp luật hình sự ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ lợi ích cá nhân và bảo vệ trật tự pháp luật thì đối tượng của quyền công tố là các hành vi vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm).
Với quan điểm cho rằng, QCT là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó thì đối tượng của QCT là tội phạm và người phạm tội. Từ quan điểm nhận thức về quyền công tố đã trình bày ở trên, tôi thống nhất với quan điểm cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Tội phạm và người phạm tội cũng chính là đối tượng của hoạt động THQCT. Nội dung của thực hiện quyền công tố 1.
Nội dung của quyền công tố Tương tự như đối tượng của QCT, nội dung QCT hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xuất phát từ quan điểm về bản chất của QCT là sự buộc tội nhân danh Nhà nước, đối tượng của QCT là tội phạm và 11 người phạm tội, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng “nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm” [41,tr. Còn việc tiến hành những biện pháp gì và cơ quan Nhà nước nào được giao thực hiện các biện pháp ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội lại là việc thực hành quyền công tố. Nội dung của thực hiện quyền công tố Hiện nay vẫn còn một số quan điểm chưa thống nhất về nội dung THQCT.