đặt vấn đề phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; các chức danh tư pháp (cảnh sát, công tố viên, thẩm phán) được phân công thực hiện đồng thời nhiều chức năng tố tụng khác nhau; còn bên bào chữa (bị can, bị cáo và người bào chữa của họ) không được xác định là một bên bình đẳng trong tố tụng hình sự. Có quốc gia lựa chọn mô hình tố tụng có sự phân định rành mạch các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự; từ đó phân định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể theo các chức năng cơ bản; mỗi chủ thể chỉ đảm nhiệm 01 chức năng tố tụng; nghĩa vụ chứng minh được san sẻ giữa các bên (bên buộc tội và bên bào chữa); Tòa án đóng vai trò thiên về Trọng tài, giám sát quá trình chứng minh của các bên và ra phán quyết trên cơ sở kết quả tranh tụng dân chủ giữa các bên. Nhiều quốc gia, quá trình phát triển đã học hỏi, tiếp thu các yếu tố hợp lý của nhiều mô hình tố tụng hình sự, tạo nên mô hình pha trộn. Ví dụ các nước áp dụng mô hình tố tụng thẩm vấn có xu hướng mở rộng hơn sự tham gia của bên bào chữa, tăng tính tích cực của Công tố viên tại phiên tòa, tương ứng với đó là hạn chế bớt sự chủ động của Thẩm phán; các nước áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng ngày càng quan tâm hơn tới yêu cầu kiểm soát tội phạm, tăng cường vai trò chủ động cho Thẩm phán.
Công tố theo từ điển Tiếng Việt là điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Định nghĩa trên cho thấy, công tố là một chuỗi hoạt động độc lập, liên tiếp, kế tiếp nhau từ điều tra, truy tố đến buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Quyền công tố Theo từ điển Luật học là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. Theo đó, quyền công tố là quyền buộc tội, việc 16 buộc tội này được thực hiện nhân danh quyền lực Nhà nước, hướng tới đối tượng là người phạm tội.
Tố tụng hình sự nước ta đã quy định, bên cạnh chức năng bào chữa và chức năng xét xử thì chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản, giúp cho quá trình tố tụng được diễn ra một cách khách quan theo quy định. Trong đó, chức năng buộc tội là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện, chứng minh tội phạm và cáo buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội, là chức năng tiền đề, “khởi động” cho cả quá trình tố tụng hình sự, vì nếu không phát hiện, chứng minh được tội phạm và đề nghị xét xử thì tố tụng hình sự không thể tiến hành do không có đối tượng. Qua đó, cho thấy, khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Đến bản Hiến pháp năm 2013, đã nêu cụ thể về quyền công tố ở nước ta và phân công nhiệm vụ THQCT cho ngành Kiểm sát, được quyền nhân danh Nhà nước để truy tố đối với người phạm tội và chỉ duy nhất trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi Tòa án giải quyết bằng một Bản án hoặc một Quyết định có hiệu lực pháp luật và không bị kháng nghị.
Tuy nhiên, QCT cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để đình chỉ điều tra, đình chỉ truy tố và đình chỉ xét xử khi có đầy đủ các căn cứ của pháp luật tố tụng hình sự. * Khái niệm thực hành quyền công tố Hiến pháp năm 1945 và 1954 chưa trực tiếp đề cập đến THQCT, mãi đến năm 1980, THQCT mới chính thức được ghi nhận. Trước đây, hoạt động công tố gắn với xét xử và công tố trong một phạm vi hẹp. Kế thừa và phát huy những quy định của Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 2013 đã có điểm nhấn khác biệt về THQCT, qua đó, THQCT được đưa lên về trước của kiểm sát hoạt động tư pháp và ngày càng được nhấn mạnh, khẳng định vị trí, vai trò 17 của ngành kiểm sát trong hệ thống các cơ quan tư pháp.
Đó là một chức năng quan trọng, được Nhà nước giao riêng biệt cho VKS. THQCT là hoạt động của VKSND nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, được thực hiện ngay từ giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm và xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, đến khi Bản án của Tòa án tuyên không và không bị kháng nghị. Để nâng cao chất lượng trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật cũng như quy định cụ thể hơn về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, Nhà nước đã ban hành các Luật, văn bản dưới luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố của VKS. Pháp luật Việt Nam quy định VKSND là cơ quan duy nhất được giao thực hiện chức năng THQCT.
Vì vậy, VKSND phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý để phát hiện tội phạm, người phạm tội và kịp thời xử lý nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội. Luật Tổ chức VKSND năm 2014, quy định cụ thể về bản chất của chức năng buộc tội của VKS [8]. Cụ thể: Thứ nhất: THQCT do một chủ thể là cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, ở nước ta THQCT được Hiến pháp năm 2013 quy định cho VKSND. Trong đó quy định cách thức tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước phải dựa vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội.phù hợp với tình hình thực tế của đất nước.
Thứ hai: THQCT là hoạt động của VKSND thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người, pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. 18 Thứ ba: thời điểm bắt đầu thực hành quyền công tố chỉ khi tội phạm được phát hiện cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi đủ căn cứ để đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can theo quy định của BLTTHS. Thứ tư: THQCT là việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngay từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đến khi bản án của Tòa án tuyên có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Để bảo đảm thực hiện việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKSND trong các giai đoạn tố tụng (giai đoạn tin báo, tố giác tội phạm; giai đoạn điều tra – truy tố - xét xử) Viện kiểm sát phải thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án và phát huy chức năng buộc tội, công tố tại phiên tòa, đảm bảo mọi tội phạm phải được trừng trị theo quy định của pháp luật.
Do đó, THQCT là việc VKSND thực hiện các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật TTHS để buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa. Đặc điểm thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân THQCT là chức năng mà Nhà nước chỉ giao cho cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất đó là VKS. THQCT là thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội. không làm oan, sai người vô tội.
Quyền công tố là công cụ sắc bén giúp Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, thông qua đó để phòng, chống tội phạm. QCT được thực hiện trong lĩnh vực TTHS, từ khi tội phạm xảy ra cho đến khi phán quyết của Tòa án đã 19 có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. QCT cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi có đủ căn cứ để đình chỉ điều tra, đình chỉ truy tố và đình chỉ xét xử khi có đầy đủ các căn cứ của pháp luật tố tụng hình sự. Do đó, quyền công tố với tính chất là công quyền hoàn toàn không thể tách rời khỏi sự ra đời của Nhà nước.
Nghiên cứu về khái niệm QCT, hiện nay có nhiều khía cạnh khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung đều thống nhất khẳng định nội dung của QCT là quyền truy tố đối với người phạm tội và thực hiện việc buộc tội tại phiên Toà, là bước khởi đầu cho quyền xét xử của Toà án. Do đó để đảm bảo tính khách quan và sự công bằng thì quyền công tố và quyền xét xử của Tòa án là hai quyền độc lập. * Đối tượng của quyền công tố THQCT là nhân danh Nhà nước để để thực hiện chức năng buộc tội, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước và đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, hiệu quả.
Vì vậy, đối tượng của QCT là các hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự. * Phạm vi THQCT: phạm vi THQCT duy nhất chỉ có trong lĩnh vực TTHS và được bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án có căn cứ đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS. Vai trò thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Nhằm bảo đảm quyền lực Nhà nước được thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và trong phạm vi thẩm quyền quy định, dù theo nguyên tắc phân công hay phân quyền đều phải được kiểm soát và giám sát. Việc kiểm soát 20 quyền lực Nhà nước được phân công cho nhiều cơ quan, trong đó VKSND là một thiết chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong hoạt động tư pháp.
Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014: THQCT là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người và pháp nhân phạm tội. Bắt đầu từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, đến khi Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực không bị kháng cáo.