mở đầu các hoạt động điều tra. Đây là giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, phải có quyết định khởi tố vụ án trƣớc, rồi mới đƣợc tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số trƣờng hợp đặc biệt. + Khởi tố vụ án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Do vậy, hoạt động điều tra chỉ tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi phạm tội và ngƣời thực hiện tội phạm mà không còn phải kiểm tra, xác minh để xác định dấu hiệu tội phạm nữa.
Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng và cơ bản để tăng cường pháp chế, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đƣợc xác định dựa trên các quy định tại Điều 100 Bộ luật TTHS năm 2003 về Thẩm quyền điều tra và Chƣơng 2 pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009) về tổ chức và thẩm quyền điều tra của CQĐT cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất thẩm quyền khởi tố của CQĐT. + Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chƣơng từ Chƣơng XII đến Chƣơng XXII của BLHS năm 1999 khi các tội đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố, điều tra của CQĐT VKSND tối cao và Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân.
18 + Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chƣơng từ XII đến chƣơng XXII khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT VKSND tối cao và Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân. Mặt khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh còn có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của Công an cấp huyện nhƣng xét thấy cần trực tiếp khởi tố, điều tra. + Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh nhƣng xét thấy cần trực tiếp khởi tố, điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng CQĐT các cấp của lực lƣợng Cảnh sát nhân dân. + Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan an ninh điều tra. Cơ quan an ninh điều tra trong Công an nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chƣơng XI, chƣơng XXIV và các tội phạm quy định tại các điều 180, 181, 221, 222, 223, 230, 231, 236, 263, 264, 274, 275 của BLHS năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh, Còn cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an chỉ khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra công an cấp tỉnh nhƣng xét thấy cần trực tiếp khởi tố điều tra.
19 Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng Cơ quan an ninh điều tra các cấp. - Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của CQĐT Bộ quốc phòng. + CQĐT hình sự trong Quân đội nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chƣơng từ Chƣơng XII đến Chƣơng XXIII của BLHS khí các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT VKS quân sự trung ƣơng. CQĐT hình sự khu vực có thẩm quyền điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự khu vực, CQĐT hình sự quân khu và tƣơng đƣơng có thẩm quyền khởi tố các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự quân khu và tƣơng đƣơng hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT hình sự khu vực nhƣng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Đối với CQĐT hình sự Bộ Quốc phòng sẽ khởi tố các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT hình sự quân khu và tƣơng đƣơng nhƣng xét thấy cần trực tiếp khởi tố, điều tra. + Cơ quan an ninh điều tra trong Quân đội nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chƣơng XI và Chƣơng XXIV của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự. Cơ quan an ninh điều tra quân khu và tƣơng đƣơng có thẩm quyền khởi tố các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự quân khu và tƣơng đƣơng; Cơ quan an ninh điều tra Bộ quốc phòng có thẩm quyền khởi tố đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT quân khu và tƣơng đƣơng nhƣng xét thấy cần trực tiếp khởi tố, điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án thuộc về thủ trƣởng, phó thủ trƣởng CQĐT các cấp trong Quân đội nhận dân.
20 - Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của CQĐT VKSND tối cao và CQĐT của VKS Quân sự Trung ƣơng: + CQĐT VKSND tối cao có thẩm quyền khởi tố các tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra. - Trong hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án, ngƣời có thẩm quyền tiến hành hoạt động tƣ pháp thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. + CQĐT VKS Quân sự trung ƣơng có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tƣ pháp mà ngƣời phạm tội là cán bộ thuộc CQĐT trong Quân đội nhân dân, TA Quân sự, VKS quân sự, Cơ quan thi hành án, ngƣời có thẩm quyền tiến hành hoạt động tƣ pháp Bộ quốc phòng thuộc thẩm quyền xét xử của TA quân sự. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án thuộc về Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng CQĐT của VKSND tối cao và VKS quân sự trung ƣơng Thứ hai, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của VKS:Theo Điều 104 và Điều 109 Bộ Luật TTHS 2003, VKS có quyền khởi tố vụ án trong hai trƣờng hợp sau: Trƣờng hợp thứ nhất, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, nếu xét thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan khác đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là không có căn cứ thì VKS ra văn bản yêu cầu Cơ quan quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Trƣờng hợp CQĐT, cơ quan khác đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không thực hiện thì VKSND ra quyết 21 định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra. + Trƣờng hợp thứ hai, khi nhận đƣợc văn bản yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, qua nghiên cứu nếu xét thấy có căn cứ thì VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra. + Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Viện trƣởng VKS các cấp. Ngoài ra, Bộ Luật TTHS quy định trách nhiệm của VKS trong việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự: Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc là còn có tội phạm khác thì VKS cũng có quyền ra quyết định thay đổi hay bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hay bổ sung khởi tố vụ án hình sự, VKS phải gửi quyết định đó đến CQĐT để tiến hành điều tra. Điều này sẽ hạn chế việc ra quyết định khởi tố không có căn cứ theo quy định của pháp luật và tránh đƣợc việc bỏ lọt tội phạm. Với chức năng kiểm sát hoạt động tƣ pháp, VKS chỉ có duy nhất một khả năng đó là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm thông qua công tác kiểm sát cụ thể này, để từ đó ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự đƣợc chính xác. Thứ ba, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của TA: Điều 104 Bộ Luật TTHS năm 2003 quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của TA như sau: “ Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” [tr 68,01].
22 Nhƣ vậy, trong khi chuẩn bị xét xử nếu TA phát hiện bị can phạm tội mới hoặc có đồng phạm khác, TA không khởi tố vụ án mà trả hồ sơ cho VKS để VKS trả cho CQĐT điều tra bổ sung nếu phát hiện bị can phạm tội mới thì ra quyết định khởi tố vụ án. Thẩm quyền khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử, trực tiếp là thẩm phán chủ tọa phiên tòa.