MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa, là nguyên nhân chính của bệnh tim mạch, tử vong sớm và gánh nặng bệnh tật. THA là bệnh rất dễ mắc phải, thường rất dễ bắt gặp ở các độ tuổi nhưng phổ biến ở người cao tuổi. Khi phát hiện bệnh THA nên được điều trị sớm tránh những tác hại lớn và có thể gây tử vong cho người bệnh.
Theo điều tra về tăng huyết áp của Viện tim mạch Quốc gia cho thấy, 25% người Việt Nam trưởng thành bị căn bệnh này, có thể tăng lên tới 47%. Thông tin trên được GS.TS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam cho biết tại buổi họp báo về Đại hội tim mạch toàn quốc lần thứ 18, diễn ra ngày 05/10/2022. Tỷ lệ 25% dân số mắc bệnh tăng huyết áp là rất lớn, trung bình cứ 4 người trưởng thành lại có một người bị tăng huyết áp và đang được trẻ hóa với rất nhiều người mắc bệnh khi đang còn trong độ tuổi lao động. Qua cuộc điều tra cho thấy rất nhiều người dân còn chủ quan với sức khỏe tim mạch: có đến 50% người bệnh bị tăng huyết áp nhưng không hề biết.
Trong số 50% còn lại biết bệnh, chỉ một nửa là điều trị đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp. Trong khi đó, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Tại Việt Nam, các bệnh tim mạch cũng chiếm 33% nguyên nhân gây tử vong. THA đã trở thành vấn đề thách thức lớn cho ngành y học nói riêng và cho toàn xã hội nói chung bởi lẽ chi phí điều trị thường xuyên rất cao, các biến chứng của nó trên nhiều cơ quan như: tai biến mạch máu não, suy tim , suy thận , nhồi máu cơ tim có thể gây tử vong hoặc tàn phế cho nhiều đối tượng.
Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chứng minh rằng có nhiều yếu tố nguy cơ gây THA, trong đó có những yếu tố có thể cải thiện được sẽ góp phần rất lớn trong việc kiểm soát và hạn chế các biến chứng do THA gây ra. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân THA hiểu biết về những yếu tố nguy cơ gây THA, còn rất hạn chế, do đó việc kiểm soát tình trạng THA cũng như dự phòng các biến chứng do THA còn rất khó khăn. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành lạm dụng thuốc kháng sinh của người trẻ Thành phố Vinh- Nghệ An năm 2023-2024”. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành lạm dụng thuốc kháng sinh của người trẻ Thành phố Vinh- Nghệ An năm 2023-2024.
- Mục tiêu cụ thể: + Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành lạm dụng thuốc kháng sinh của người trẻ Thành phố Vinh- Nghệ An; + Đề xuất một số giải pháp làm giảm thiểu số nguy cơ ở việc người trẻ lạm dụng thuốc kháng sinh. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Chọn ngẫu nhiên 200 người trẻ ở độ tuổi khoảng 18-24 tại Thành phố Vinh- Nghệ An. Thời gian nghiên cứu Từ ngày 03/09/2024 đến ngày 16/12/2024.
Địa điểm nghiên cứu - Phòng thí nghiệm Giải phẫu sinh lý – Trường Đại học Vinh. -Thành phố Vinh- Nghệ An. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu của hệ tuần hoàn : Tim, vòng tuần hoàn, hệ mạch. Khảo sát sự hiểu biết các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng huyết áp.
Xác định thực trạng các yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp tại trung tâm Tim Mạch, bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các 2 tài liệu liên quan đến giải phẫu định khu, chức năng của hệ tuần hoàn; các nghiên cứu về bệnh lý hệ tuần hoàn. - Phương pháp nghiên cứu mẫu vật, mô hình: Sử dụng các mô hình về hệ tuần hoàn tổng quát, Tim,vòng tuần hoàn,hệ mạch để phân tích các chức năng của hệ tuần hoàn.Tim,vòng tuần hoàn, - Phương pháp nghiên cứu hình ảnh, video: Dựa trên các hình ảnh, video mô tả về hệ tuần hoàn để bổ sung các dẫn liệu về cấu tạo giải phẫu. - Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát in sẵn.
- Phương pháp xử lý số liệu: Bằng phương pháp thống kê toán học với sự trợ giúp của phần mềm Microsoft Excel. GIẢI PHẪU LÂM SÀNG HỆ TUẦN HOÀN 1. Vị trí và trục của tim Tim nằm trong lồng ngực, ở trung thất giữa, giữa hai lá phổi, trên cơ hoành, sau xương ức và xương sườn, hơi lệch sang trái. Trục của tim là một đường chếch xuống dưới, sang trái và ra trước.
Lồng ngực càng rộng ngang thì trục của tim càng chếch xa đường thẳng đứng. Vị trí của tim có thể thay đổi theo cấu tạo lồng ngực, các tư thế khi ngồi, khi nằm và lúc thở ra hay hít vào. Vị trí của tim 1. Hình thể ngoài của tim Tim hình tháp 3 mặt (gần như hình chóp nón), một đỉnh và một đáy.
Đỉnh ở dưới, hướng ra đằng trước và lệch về bên trái. Đáy ở trên, khoảng giữa xương ức, chếch ra phía sau, hướng sang phải. Đáy tim tương ứng với mặt sau hai tâm nhĩ, có rãnh gian nhĩ chạy dọc ở giữa chia làm 2 nửa là tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái. Tâm nhĩ phải nằm bên phải rãnh gian nhĩ, phía trên có tĩnh mạch chủ trên, phía dưới có tĩnh mạch chủ dưới đổ vào, liên quan với màng phổi phải và thần kinh hoành phải.
Tâm nhĩ trái ở bên trái rãnh gian nhĩ, là nơi đổ vào của 4 tĩnh mạch phổi, liên quan với thực quản phía sau. 4 Mặt ức sườn nằm ở phía trước, có rãnh vành chạy ngang phía trên, ngăn cách phần tâm nhĩ ở trên và tâm thất ở dưới. Ở tâm nhĩ bị thân động mạch phổi và động mạch chủ trên che lấp, hai bên có hai tiểu nhĩ phải và trái. Ở tâm thất có rãnh gian thất trước, chạy dọc từ phía sau ra trước, đến bên phải đỉnh tim, chia ra tâm thất phải và tâm thất trái.
Tâm thất phải chiếm diện tích lớn ở mặt trước. Mặt hoành nằm ở mặt dưới, đè lên cơ hoành, liên quan với thuỳ trái của gan và đáy vị. Rãnh vành ở mặt ức sườn chạy tiếp xuống mặt hoành, chia tim thành tâm nhĩ và tâm thất. Tâm nhĩ ở phía sau, hơi hẹp, còn phía trước là tâm thất, rộng hơn, có rãnh gian thất sau chạy từ sau ra trước rồi nối với rãnh gian thất trước ở đỉnh tim bên phải (khuyết đỉnh tim).
Mặt phổi hẹp, liên quan với phổi và màng phổi trái, thần kinh hoành trái. Đỉnh tim hướng ra đằng trước, nằm chếch sang trái, ngay sau thành ngực, ở khoảng gian sườn V trên đường giữa xương đòn trái. Hình thể ngoài của tim 1. Cấu tạo trong của tim Tim chia thành các buồng tim với các vách ngăn, các van tim và các tổ chức nút tự động.
Về phương diện giải phẫu, tim người chia thành bốn buồng tim với hai tâm nhĩ và hai tâm thất, là tâm nhĩ phải, tâm nhĩ trái, tâm thất phải và tâm thất trái. Cấu tạo trong của tim Tâm nhĩ có thành mỏng hơn tâm thất, nhận máu từ các tĩnh mạch đổ về. Mỗi tâm nhĩ thông với một tiểu nhĩ ở phía trên và thông với tâm thất cùng bên qua lỗ nhĩ thất. Tâm nhĩ phải nhận máu từ tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới và xoang vành đổ vào.
Tâm nhĩ trái nhận máu từ các tĩnh mạch phổi đổ vào. Hai tâm nhĩ ngăn cách nhau bởi vách liên nhĩ. Sau khi sinh, ống Botal ở vách liên nhĩ dần đóng lại vào tuần thứ 6 đến tuần thứ 11, lỗ Botal đóng hẳn sau 6 tháng đến một năm và giống như người trưởng thành. Tâm thất có thành dày hơn thành tâm nhĩ, thông với tâm nhĩ qua lỗ nhĩ thất và thông với các quai động mạch lớn, ngăn cách nhau bởi vách liên thất.
Tâm thất phải có dạng hình tháp ba mặt, phía trên có lỗ nhĩ thất phải được đậy kín bằng van nhĩ thất phải (van ba lá). Phía trên lỗ nhĩ thất phải là lỗ thân động mạch phổi được đậy kín bởi các van hình tổ chim. Tâm thất trái hình nón dẹt, có hai thành, thông với tâm nhĩ trái qua có lỗ nhĩ thất trái bởi van hai lá. Tâm thất trái thông với lỗ động mạch chủ, cũng được đậy kín bởi van động mạch chủ hình tổ chim.
Thành cơ tim thất trái dày gấp 2 - 4 lần thành thất phải, do phải bơm máu với áp lực cao hơn để thắng sức cản lớn của hệ tuần hoàn. Trung bình tỉ lệ 6 bề dày thành thất trái/thất phải ở sơ sinh là 1,4/1, ở trẻ 4 tháng đến 6 tháng tuổi là 2/1 và đến 15 tuổi là 2,76/1. Trong tim chứa các van tim, giúp cho máu chỉ di chuyển theo một chiều nhất định. Van nhĩ thất ngăn giữa tâm nhĩ và tâm thất, bên trái có van hai lá, bên phải có van ba lá, nó giúp máu chảy một chiều từ tâm nhĩ xuống tâm thất.
Van tổ chim nằm ở giữa tâm thất trái và động mạch chủ (van động mạch chủ), ở giữa tâm thất phải và động mạch phổi (van động mạch phổi), nó giúp máu chảy một chiều từ tâm thất ra các động mạch. Cấu tạo của van tim Hình 1. Cấu tạo vách tim 7 Tim được chia bởi các buồng nhờ các vách tim. Vách liên nhĩ nằm giữa hai tâm nhĩ, là một vách mỏng ứng với rãnh gian nhĩ ở bên ngoài.
Trong thời kỳ phôi thai, vách gian nhĩ có lỗ hở (lỗ Botal) để máu đi từ tâm nhĩ phải sang tâm nhĩ trái, được đóng kín sau khi sinh. Trường hợp không đóng kín, lỗ này được gọi là lỗ bầu dục và gây nên tật thông liên nhĩ. Vách liên thất là vách ngăn giữa hai tâm thất tương ứng với các rãnh gian thất ở bên ngoài. Vách liên nhĩ-thất là một màng mỏng ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm thất trái.
Tim hoạt động một cách tự động là nhờ một hệ thống các nút tự động. Nút nhĩ - thất (nút Aschoff - Tawara) phân bố ở dưới lớp nội tâm mạc của tâm nhĩ phải, tại nền của vách nhĩ thất, ngay dưới xoang vành, phát xung khoảng 40 - 60 nhịp/phút, được chi phối bởi dây giao cảm và dây X.