CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Chứng minh và lập luận chứng minh Chứng minh là một khái niệm phổ biến có mặt không chỉ trong mọi lĩnh vực của khoa học mà cả đời sống. Bởi lẽ, khoa học không là tổng số những thông tin phân tán về lĩnh vực hiện thực này hay khác mà đó là hệ thống chặt chẽ các tri thức, nơi các thành tố liên hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc và chế định lẫn nhau. Nhiệm vụ của mọi khoa học không chỉ khám phá ra và lớn tiếng tuyên bố về chân lý được tìm ra, mà còn phải chứng minh chúng.
Trong đời thường, chứng minh có mặt khắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, khi chúng ta cần phải lí luận, tranh luận với nhau, khi chúng ta kể lại một sự kiện, miêu tả một hiện thực. Để xây dựng được một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận chứng minh trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THCS một cách hiệu quả, rất cần đặc biệt chú ý hai phương diện: chứng minh dưới góc độ hoạt động tư duy và thao tác ngôn ngữ. Đây là hai lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau: “Tư duy con người như là hệ thống phản ánh luôn gắn liền thống nhất hữu cơ với ngôn ngữ” [36, tr. Nắm được nội dung lý thuyết về lập luận chứng minh trên góc độ hoạt động tư duy là nắm được bản chất tổ chức, kết cấu của tư tưởng; nắm được nội dung lý thuyết về lập luận chứng minh trên góc độ hoạt động ngôn ngữ là nắm được cách thức sử dụng ngôn ngữ tự nhiên để biểu đạt tư tưởng, nhận thức.
Chứng minh với tư cách là một thao tác của tư duy Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên), thao tác là“ thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó trong sản xuất”[30, tr. Với định nghĩa này, thao tác được hiểu như các bước tiến hành để thực hiện một công việc, hay nói cách khác đó là những thao tác cơ học. Ví dụ thao tác khởi động máy tính, thao tác mở ti vi … 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tâm lý học, thao tác được xem là hệ thống những hành động trong tư duy, là cốt lõi của cách thức hành động bị quy định và chi phối bởi hoàn cảnh , điều kiện cụ thể. Trong đời sống, hoạt động của con người, thao tác là một yếu tố không thể thiếu được, nó chi phối mọi hoạt động của con người để đạt được mục đích nhất định.
Thao tác là cách để làm nên nội dung của hành động. Vì vậy nó có ý nghĩa cơ học, có tính chất cơ động, yếu tố kỹ thuật, có thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phù hợp với mục đích thực hiện hành động, và cách thức cũng như quy trình hành động đối với mỗi sự việc cụ thể. Tư duy là hệ thống hữu cơ có những tiền đề và điều kiện xuất hiện của nó, được cấu thành từ những bộ phận liên hệ với nhau. Hay nói một cách chung nhất: “Tư duy là sự phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực khách quan vào đầu óc con người, được thực hiện bởi con người xã hội trong quá trình hoạt động thực tiễn cải biến thế giới xung quanh” [36, tr.
Có thể nói tư duy chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật hiện tượng bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý các vấn đề. Trong logic học, tư duy được xem xét dưới góc độ chức năng và cấu trúc của nó, từ phía vai trò và ý nghĩa của tư duy như là phương tiện nhận thức nhằm đạt tới chân lý, từ sự phân tích cấu trúc tư duy và các mối liên hệ giữa các bộ phận của nó. Do đó, chứng minh được coi là một khái niệm khá quan trọng trong logic học với tư cách là một thao tác cơ bản của tư duy. Mục đích của nhận thức khoa học và thực tiễn là đạt tới tri thức chân thực khách quan và trên cơ sở đó, con người tác động tích cực vào thế giới xung quanh nhằm cải biến nó phục vụ cho nhu cầu của mình.
Để nhận thức đúng đắn các sự vật và hiện tượng, con người có thể dựa vào cảm tính. Chẳng hạn, chúng ta nhìn thấy trời mưa, nghe thấy tiếng ồn, cảm thấy vị cay của hạt tiêu. Tất cả những sự thực đó không cần phải lập luận và đã thấy rõ ràng nhờ cơ quan thụ cảm. Song, nhiều trường hợp chúng ta phải chứng minh, phải lập luận những luận điểm do chúng ta nêu ra.
Theo đó, chứng minh “là thao tác logic xác định tính chân thực của một luận điểm nào đó nhờ sử dụng những luận điểm chân thực khác có quan hệ hữu cơ với các luận điểm ấy” [20, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chứng minh là quá trình rút ra, xác định giá trị một tri thức mới từ một số tri thức đúng đắn đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Bởi vậy, xét cho cùng, chứng minh là kiểm tra nguyên lý lý luận, kết luận bằng thực tiễn. Không có sự kiểm tra đó, không thể sử dụng được những tri thức và những phát minh khoa học vào hoạt động thực tiễn.
Chứng minh có thể làm sáng tỏ tính chân thực của các luận điểm được nêu ra trước và các luận điểm chưa được nêu ra trước. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng tất cả các hình thức tư duy, các loại suy luận và các tri thức thông tin khoa học đã biết để làm sáng tỏ tính đúng đắn của một luận điểm hay một giả định nào đó, nhằm hình thành ở con người một niềm tin khoa học, vững chắc vào những luận điểm đó. Do vậy, chứng minh được coi là “thao tác cơ bản của tư duy chính xác, là điệu kiện quan trọng của nhận thức khoa học” [20, tr. 200] Một phép chứng minh bất kì, không phụ thuộc vào nội dung cụ thể rất khác nhau trong các lĩnh vực hoạt động khoa học và thực tiễn đa dạng của nó, đều có cấu trúc như nhau với ba bộ phận chính: luận đề, các luận cứ và luận chứng.
Luận đề là cái phải chứng minh, luận cứ là cái dùng để chứng minh, tồn tại dưới dạng ẩn là luận chứng, tức là chứng minh như thế nào, chứng minh bằng cách nào. Căn cứ vào cách chứng minh có thể chia chứng minh thành hai phương pháp: trực tiếp và gián tiếp. Chứng minh trực tiếp là loại chứng minh trong đó sử dụng các luận cứ để trực tiếp rút ra tính chân thực của luận đề. Nếu P là luận đề ; a,b,c.
là các luận cứ ; k,l,m… là các phán đoán chân thực được suy ra từ a,b,c thì phương pháp chứng minh có thể được biểu diễn theo công thức: (a,b,c,.) P Ở công thức trên, vì a,b,c,. chân thực nên mối liên hệ logic từ a,,b,c,. tới P là đúng đắn nên luận đề phải chứng minh P là chân thực. Chứng minh gián tiếp là loại chứng minh trong đó, tính chân thực của luận đề được rút ra trên cơ sở luận chứng tính giả dối của các phản luận đề hoặc loại trừ các khả năng khác.
Một phương pháp thường được sử dụng trong chứng minh gián tiếp là phương pháp phản chứng. Đây là phương pháp qua xác lập tính giả dối của phản luận đề mà khẳng định tính chân thực của luận đề. Chẳng hạn, để khẳng định tính chân thực của quan điểm: “nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vị nghệ thuật” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ta có thể tiến hành xác lập tính giả dối của luận điểm “nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vị nghệ thuật”. Như mọi thao tác logic khác, chứng minh cũng có thể đúng, có thể sai.
Một phép chứng minh đúng cần tuân thủ những yêu cầu gọi là các quy tắc chứng minh: - Quy tắc với luận đề: Quy tắc 1: Luận đề phải xác định, nghĩa là luận đề nêu ra phải rõ ràng và chính xác Quy tắc 2: Luận đề phải giữ nguyên trong suốt quá trình lập luận - Quy tắc với luận cứ: Quy tắc 1: Luận cứ phải chân thực Quy tắc 2: Luận cứ phải là cơ sở đầy đủ để khẳng định giá trị của luận đề Quy tắc 3: Các luận cứ phải được chứng minh độc lập với luận đề - Quy tắc với luận chứng: Quy tắc 1: Phải tuân theo các quy luật của tư duy và các quy tắc của suy luận được sử dụng trong luận chứng Quy tắc 2: Luận chứng phải rút ra được luận đề một cách tất yếu. Chứng minh với tư cách là một phép lập luận Trong thực tiễn cuộc sống, nhiều khi con người phải đánh giá và bày tỏ ý kiến, thái độ của mình đối với các vấn đề được trình bày. Để làm được điều này, người ta phải sử dụng đến lập luận. Về cơ bản, xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận – đó là lập luận.
Theo Vương Tất Đạt, “cách thức logic rút ra kết luận từ những tiền đề gọi là lập luận” [18, tr. Có hai loại lập luận. Thứ nhất, lập luận trong khoa học để chứng minh một chân lý; chẳng hạn toán chứng minh trong hình học; và thứ hai, lập luận trong đời thường để thuyết phục, tạo niềm tin, nói (chứng minh) cốt sao người nghe thấy “lọt lỗ tai” rồi tin theo kết luận đưa ra hoặc từ bỏ những xác tín cũ. Tuy nhiên, lập luận trong văn nghị luận lại có những điểm đặc thù riêng, phụ thuộc vào đặc trưng riêng của văn nghị luận.
Để tạo lập văn bản, người viết có thể sử dụng những cách biểu đạt khác nhau, gắn với những kiểu tư duy khác nhau. Nếu “văn miêu tả”, “văn kể chuyện” được gọi chung là “lối văn hình tượng” với đặc 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thù “nhằm khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc” [17, tr.5] thì văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, giúp cho việc phát triển tư duy và nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Theo “Từ điển Bách khoa Toàn thư” của Mĩ, văn nghị luận (Esay/Literature Criticsm) được xếp vào dạng thức “không hư cấu” (forms of nonfiction). (“Từ điển Bách khoa toàn thư” của Mĩ định nghĩa: “Văn học là những sản phẩm viết của xã hội bằng văn xuôi hoặc thơ.