Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC NÙNG VÀ BÀI CA NGHI LỄ CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HỮU LŨNG, LẠNG SƠN 1. Tổng quan về dân tộc Nùng 1. Vài nét về người Nùng ở Việt Nam * Nguồn gốc lịch sử Dân tộc Nùng là dân tộc thiểu số trong tổng số 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam, tộc người Nùng là một trong những cư dân lâu đời nhất ở nước ta, nguồn gốc của tộc người này cũng nằm trong quy luật phức tạp của nguồn gốc lịch sử như của những dân tộc khác. Trong cuốn Văn hoá truyền thống Tày Nùng, Hoàng Quyết và các tác giả viết “ Về phương diện cội nguồn lịch sử người Tày, người Nùng vốn thuộc chung nhóm Âu Việt, nằm trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam Trung Quốc” [40,tr.
Người Nùng là cư dân thuộc khối Bách Việt đó, chịu những ảnh hưởng khá rõ về ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học, nghệ thuật. Dân tộc Nùng là nhân chứng của các sự kiện lịch sử trọng đại từ những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước thời Âu Lạc của An Dương Vương, cho đến chiến tranh vùng biên giới Việt, Trung. * Dân cư và địa bàn cư trú Dân số người Nùng đứng thứ sáu, sau dân số các dân tộc: Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơme. Với số dân là: 865412 người, người Nùng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh như: Cao Bằng, Lạng Sơn, sau đó đến các tỉnh: Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang và rải rác ở một số tỉnh ở miền núi khác.
Ngoài lãnh thổ ở Việt Nam, người Nùng còn cư trú khá đông ở các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông - Trung Quốc. Tại vùng Việt Bắc cũng giống như người Tày, người Nùng chiếm tỉ lệ khá cao so với các dân tộc thiểu số khác (Ví dụ ở Lạng Sơn là: 43,86%, Cao Bằng là: 32,85%.12] Đại bộ phận người Nùng ở Việt Nam nói chung là những người di cư từ Quảng Tây Trung Quốc sang, họ cư trú ở vùng đất có nhiều rừng núi, quanh các thung lũng lòng chảo và dọc theo các triền sông. Vài chục năm gần đây, người Nùng đã có số lượng không nhỏ định cư tại các thành phố, thị trấn, thị xã bên cạnh các dân tộc khác như: Kinh, Tày, Dao, Mông… 11 Dân tộc Nùng còn có các tên gọi khác theo địa phương và được định danh theo hai loại: Tên gọi theo đặc điểm trang phục có: Nùng Khèn Lài (nhóm người Nùng có ống tay áo có pha nhiều màu vải khác nhau), Nùng Hù Lài (nhóm người Nùng mà phụ nữ đội khăn chàm, có đốm trắng), Nùng Shử Tỉn (nhóm người Nùng mặc áo ngắn chỉ chấm mông)… Hoặc tên gọi theo địa danh cư trú khởi nguồn trước khi di cư tới Việt nam: Nùng An, Nùng Inh, Nùng Phản Shình, Nùng Cháo, Nùng Quý Rịn, Nùng Lòi, Nùng Din, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xìn, Nùng Viển, Nùng Chỉ… Trong thời kì phát triển và hội nhập kinh tế ngày nay, việc gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc của Nùng nói riêng và các dân tộc anh em khác nói chung như giữ gìn được trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hoá trong đám cưới, ma chay, lễ hội… không phải là điều dễ dàng. Việc bảo tồn và phát huy những nét sinh hoạt độc đáo của người dân tộc đòi hỏi sự quan tâm từ các cấp chính quyền qua chính sách cụ thể để người dân hiểu và nhận thức được vốn quý giá của dân tộc, có ý thức gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Người Nùng ở Hữu Lũng, Lạng Sơn 1. Điều kiện tự nhiên Ở Lạng Sơn, từ khi di cư vào Việt Nam (khoảng thế kỉ XII,XIII) người Nùng đã sống quần cư thành bản làng, hoà hợp với các dân tộc khác, có quan hệ gần gũi, mật thiết với dân tộc Tày, nên đôi khi không cần phân biệt dân tộc Tày hay Nùng và đến ngày nay còn rất nhiều bản làng thuần người Nùng sinh sống. Đây cũng là một đặc điểm lớn giúp lưu truyền những giá trị văn học nghệ thuật độc đáo của dân tộc Nùng. Huyện Hữu Lũng nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, phía Bắc giáp huyện Bắc Sơn, huyện Văn Quan, phía Đông Bắc là huyện Chi Lăng (cùng tỉnh Lạng Sơn) và phía Đông, Đông Nam giáp huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang), phía Tây giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) và huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên).
Huyện Hữu Lũng có 26 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 25 xã (Đồng Tân, Cai Kinh, Hòa Lạc, Yên Vượng, Yên Thịnh, Yên Sơn, Hữu Liên, Sơn Hà, Hồ Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn, Minh Hòa, Hòa Thắng, Minh Sơn, Nhật Tiến, Minh Tiến, Đô Lương, Vân Nham, Thanh Sơn, Đồng Tiến, Tân Lập, Thiện Kỵ, Yên Bình, Hòa Bình, Quyết Thắng). Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Hữu Lũng, cách thành phố Lạng Sơn 70 km về phía Nam. 12 Huyện Hữu Lũng là nơi có nhiều lễ hội như hội chợ Mẹt (Thị trấn Hữu Lũng) tổ chức ngày 12 tháng giêng, ngày 27 tháng 3 âm lịch, ngày 12 tháng 8 âm lịch; hội chợ Phổng (xã Vân Nham) tổ chức vào ngày 20 tháng giêng; hội chợ Bắc Lệ (xã Tân Thành) tổ chức vào ngày 15 tháng giêng. Có nhiều lễ hội như hội Đền Bắc Lệ (xã Tân Thành), đền Suối Ngang (xã Hoà Thắng), đền Quan Giám Sát và đền 94 (xã Hoà Lạc), đền Ba Nàng (xã Cai Kinh); Hội Tròi Ngô (xã Yên Thịnh).
Huyện Hữu Lũng có tổng diện tích tự nhiên 806,74km2, tổng dân số là 114.860 người, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 52,3% ; gốc bản địa, thuộc nhóm ngữ hệ Tày,Thái. Người Nùng ở Hữu Lũng sinh sống xen kẽ cùng các dân tộc trên địa bàn ở tất cả 25 xã và 1 thị trấn của huyện, luôn xây dựng mối đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc anh em và có nền văn hoá, văn học nghệ thuật từ lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc. Đời sống kinh tế * Dân số: Lạng Sơn là tỉnh có đông người Nùng sinh sống nhất Việt Nam Năm 1995 có 309.490 người, chiếm 43,9% dân số toàn tỉnh. Lạng Sơn cũng là tỉnh người Nùng chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu dân số các tộc người của tỉnh.
Người Nùng có mặt ở hầu hết các xã, huyện trong toàn Tỉnh. Huyện Hữu Lũng có tổng diện tích tự nhiên 806,74km2. Tổng dân số trên địa bàn huyện Hữu Lũng năm 2013 là 114.860 người, bằng 15,29% dân số của tỉnh Lạng Sơn, mật độ dân số 142 người/km2. Có 07 dân tộc chủ yếu cùng chung sống hoà thuận là Nùng, Kinh, Tày, Dao, Hoa, Cao Lan, Sán Dìu.; trong đó dân tộc Nùng chiếm 52,3%, dân tộc Kinh 38,9%; dân tộc Tày 6,6%, dân tộc Cao Lan chiếm 1,23%, dân tộc Dao chiếm 0,44%, dân tộc Hoa chiếm 0,14%, còn lại các dân tộc khác chiếm 0,39% dân số toàn huyện.12] Dù có nhiều thành phần dân tộc với những phong tục tập quán, trình độ sản xuất khác nhau những nhân dân các dân tộc trong huyện Hữu Lũng luôn đoàn kết,vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương.
* Kinh tế: Cũng giống người Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, người Nùng ở Hữu Lũng, Lạng Sơn nói riêng luôn đề cao sản xuất nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là trồng lúa, cùng đó là kết hợp với gieo trồng cây hoa màu trên đất dốc hay vườn, đồi. Các hoạt động sản xuất khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt hái lượm chỉ là những hoạt động phụ mang tính hỗ trợ hoạt động trồng trọt. 13 Người Nùng ở Hữu Lũng gắn cuộc sống lao động, sản xuất của mình với cây lúa nước, lúa nương và trồng trọt hoa màu trên nương rẫy. Phương thức sản xuất chủ yếu vẫn theo lối cổ truyền.
Ngày nay, để nâng cao năng suất thu hoạch người Nùng đã sử dụng hình thức canh tác mới, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến, phù hợp cho từng diện tích canh tác và các loại cây trồng, mang lại lợi ích kinh tế lớn lao. Ngoài nghề trồng lúa nước ra người Nùng còn trồng nhiều cây lương thực khác: ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng. cùng các cây lấy dầu, cây công nghiệp như cây hồi, trẩu, sở, thuốc lá, mía, chè, mạy pi, mạy pầu, cây bông, cây chàm. và các cây ăn quả như cam, đào, mận, lê, quýt, hồng, na.
Chăn nuôi và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác, trước đây chỉ được xếp sau nghề trồng lúa, trồng màu. Nhưng trong những năm trở lại đây chăn nuôi mới có cơ hội phát triển và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thu nhập của họ. Trong đời sống từ xa xưa của người Nùng, nghề thủ công đã khá phát triển và đạt trình độ cao. So với một số dân tộc khác trong tỉnh, thủ công của người Nùng phát triển hơn đôi chút.
Tuy họ không coi nghề thủ công là chủ chốt nhưng sản phẩm của họ lại có mặt ở hầu hết các hoạt động sản xuất và trong sinh hoạt của họ. Người Nùng sớm biết làm nhiều nghề phụ như: dệt vải, nhuộm vải chàm, rèn đúc, làm gốm, đan lát mây tre, dệt chiếu, làm đường, làm yên ngựa, đặc biệt là nghề làm ngói máng, tức ngói âm dương. Sự phát triển này đã ảnh hưởng tích cực đền việc hình thành các nét bản sắc văn hóa đặc trưng của người Nùng. Trong đời sống kinh tế của người Nùng ở Hữu Lũng nói riêng và Lạng Sơn nói chung, từ xa xưa, việc săn bắt, hái lượm, chiếm đoạt các sản vật có sẵn trong tự nhiên để sinh sống là hoạt động không thể thiếu.
Các loại muông thú, rau, củ, quả, cây thuốc, mật ong ruồi. sẵn có trong rừng là nguồn cung cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh. Lạng Sơn là khu vực buôn bán, giao thương khá phát triển. Có 3 cửa khẩu lớn (Tân Thanh, Đồng Đăng, Chi Ma) giao thông buôn bán với Trung Quốc, ở các cửa khẩu này người Nùng sinh sống tương đối đông đúc, chiếm hầu hết dân số ở các huyện biên giới của tỉnh, hơn nữa về nguồn gốc xa xưa người Nùng cũng có gốc gác từ phương Bắc vì thế cho nên đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để người Nùng ở Lạng Sơn phát triển kinh tế, đặc biệt là xuất nhập khẩu hàng hoá sang Trung Quốc.
Vì vậy giúp cho người Nùng ở Lạng Sơn phát triển hơn người Nùng ở các địa phương khác ở sự hoạt bát, tư duy, năng động, kinh tế của người Nùng ở Lạng Sơn 14 cũng khá sung túc. Đặc biệt nhiều người Nùng trong tỉnh Lạng Sơn đang giữ vị trí rất cao trong bộ máy lãnh đạo từ cấp Tỉnh, cấp Sở, Huyện, Ban ngành.