chương I của luận văn này sẽ làm rõ các khái niệm cũng như cách thức một Doanh nghiệp nền tảng hoạt động, vận hành và quản lý để làm cơ sở cho việc học hỏi và áp dụng vào trong một doanh nghiệp cụ thê. Đặc điểm của mô hình kinh doanh nền tảng 1. Mô hình kinh doanh nền tảng và mô hình kinh doanh truyền thông Để tìm ra các đặc điểm của mô hình kinh doanh nền tảng, đầu tiên, chúng ta so sánh mô hình này với mô hình kinh doanh truyền thống. Một số nguyên tắc chỉ phối hoạt động của các nền tảng khác biệt rõ rệt khi so sánh với các mô hình kinh doanh truyền thống.
10 Việc bán sản phâm hoặc dịch vụ là trọng tâm của hầu hết các doanh nghiệp truyền thống, trong khi đối với các nền tảng giao dịch, việc kết nối các nhóm người dùng khác nhau là trọng tâm chính. Ví dụ, một công ty taxi mini truyền thống bán dich vụ taxi, trong khi một công ty nền tảng có thé kết nói tài xế với hành khách. Mô hình kinh doanh truyền thống Mô hình kinh doanh hiện tại đa phần đang sử dụng (truyền thống) mà chúng ta gọi là “Cấu trúc đường ống” (pipeline). Mô hình này rất quen thuộc trong các chương trình giảng dạy về kinh tế, được biết đến với mô hình Chuỗi giá trị (value chain).
Các doanh nghiệp có mô hình đường ống hay chuỗi giá trị sử dụng các sắp xếp từng bước nhằm tạo ra và chuyên giao giá trị, với đầu bên này là nhà sản xuất và đầu bên kia là người tiêu dung. — CHUỔIGIÁ TRỊ —:r—t:—*— mà EERE Hình 1. Mô hình chuỗi giá trị truyền thống Cơn Đầu tiên công ty tiễn hành xác định thị trường mục tiêu, nghiên cứu và phát triển (R&D) một sản phẩm hoặc dịch vụ, sau đó sản phẩm được sản xuất, phân phối, bán hàng và marketing. Cuối cùng, khách hàng đến mua sản phẩm hoặc dịch vụ này.
Do tính đơn giản của nó, chúng ta có thể coi một doanh nghiệp có cấu trúc đường ống là một chuỗi giá trị tuyến tính. Đặc điểm của mô hình tuyến tính này bao gồm: - Sự tồn tại của những người Gác công (Gate Keeper): Những người gác công này vừa là điểm mạnh và điểm yếu của mô hình tuyến tính. Họ là các Biên tập viên của các nhà xuất bản lựa chọn vài cuốn sách trong hàng ngàn tác giả và bản thao để phát hành, là các Thư ký tòa soạn, người lựa chọn 11 các bài báo được phát hành, là các nhà quản lý sản phẩm, lựa chọn giữa hàng ngàn sản phâm một số sản phẩm đưa lên kệ trưng bày của siêu thị, là các Tổng đài viên, người nhận cuộc gọi và điều phối xe taxi đến cho khách hàng. Họ là những chuyên gia, đánh giá lựa chọn các sản phâm chất lượng theo các tiêu chí để mang tới cho người tiêu dùng.
Nhưng chính họ chứ không phải người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm. Người tiêu dùng chỉ được lựa chọn trong số các sản phẩm ít ỏi mà Người Gác Công mang tới. Và khi doanh nghiệp tăng trưởng, khi nhu cầu tăng lên, người Gác công lại trở thành điểm yếu. + Thứ nhất, năng lực lựa chọn của người gác cổng rất phục thuộc vào kỹ năng (tức là những kinh nghiệm trong quá khứ) và những nhận định chủ quan về những gì xảy ra trong tương lai.
Và giữa hàng triệu khách hàng đọc sách, đọc báo, đi tax1, sử dụng dịch vụ đào tạo,. họ khó có thê đáp ứng nhu cầu của phần đông khách hàng. + Thứ hai, việc bổ sung đội ngũ người Gác cổng là rất tốn kém chỉ phí và mất thời gian. Rất nhiều doanh nghiệp đã không thể tăng trưởng do không thể bổ sung thêm đội ngũ chuyên gia này vào doanh nghiệp của mình.
- BỊ giới hạn nguồn lực để tạo ra giá trị. Trong mô hình chuỗi gia tri, dé tao ra san pham dich vu, mang giá trị tới người tiêu dùng, doanh nghiệp cần phải có các nguồn lực: tài chính, nhân lực, vật lực. Với các nguồn lực mà doanh nghiệp có sẵn, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc sản xuất, tạo ra giá trị. Tuy nhiên, việc bố sung các giá trị mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải tốn rất nhiều thời gian và nguồn lực của mình.
Lấy ví dụ, chuỗi khách sạn Hilton nhận thấy tại Phú Quốc nhu cầu người dùng tăng cao, với 01 khách sạn 1000 phòng hiện tại không đủ đáp ứng. Đề đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, khách sạn phải tiến hành xây dựng thêm các tòa nhà mới, bổ sung và đào tạo các nhân sự mới, rồi bô sung vào danh mục phòng lên hệ thống quản lý, thanh toán. rất phức tạp. Điều này cũng đúng trong trường hợp nguồn lực bị thừa, hoặc nhu cầu sụt giảm như hàng tồn kho lớn.
luôn là vấn đề đau đầu của mọi doanh nghiệp, đặc 12 biệt doanh nghiệp lớn! - Kiểm soát chất lượng và cải tiễn sản phâm Với mô hình tuyến tính, khi nhà sản xuất cung cấp giá trị tới khách hàng phải thông qua một chuỗi các hoạt động giá trị. Toàn bộ quá trình quản trị chất lượng và đánh giá mức độ thành công khi thâm nhập của sản phẩm phải thông qua một quá trình rất đài và hoàn toàn do hệ thống giám sát nội bộ thực hiện. Điểu này dẫn tới rất nhiều sản phẩm that bại do khi đưa ra thị trường thì đã lỗi thời, do thị trường đã thay đôi. Và cũng dẫn tới khả năng thõa mãn các nhu cầu người dùng giảm xuống.
- Khả năng quản lý doanh nghiệp Vì toàn bộ quá trình tạo ra giá trị nằm trong doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp phải thiết lập một hệ thống kiêm soát chặt chẽ và nhiều tầng lớp. Khi doanh nghiệp càng lớn, thị trường càng rộng, thì hệ thống kiểm soát này càng phình to và giảm dần hiệu quả. Hệ thống càng lớn, vấn đề phát sinh càng nhiều. Doanh nghiệp mat quá nhiều nguồn lực, thời gian để tập trung giải quyết vấn đề nội bộ, mà bỏ qua những vấn đề quan trọng như R&D, hay tối ưu hệ thống sản xuất.
M6 hinh kinh doanh nén tang Những vấn đề của mô hình kinh doanh tuyến tính dẫn tới doanh nghiệp gặp rat nhiều khó khăn trong vấn để tăng trưởng và mở rộng quy mô. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng với các doanh nghiệp mà nguồn lực ít, năng lực quản lý còn yếu. LINEAR PIPE VS. TRIANGULAR PLATFORM RAW MAT’LS PRODUCTION — — ASSEMBW DISTRIBUTION Source Content Edit/ Curate Create Bundles Multiple channels NHỮNG YEU TO TRAO DOI GIA TRI ® ” - og ® |lð| tử ø NHÀ SẢN XUẤT = NGƯỜI TIÊU DÙNG NÊN TẢNG 13 Hình 1.
Mô hình kinh doanh nền tảng & mô hình chuỗi giá trị tuyến tính - Mô hình kinh doanh nền tảng loại bỏ các Người gác công Gate Keepers: Trong mô hình nền tảng người tiêu dùng tự quyết định sản phẩm, hàng hóa phù hợp với nhu cầu của mình. Mô hình giáo dục đại học truyền thống bắt buộc các học sinh và phụ huynh phải trả tiền cho một nhóm bao gồm quản lý, giảng dạy, cơ sở vật chất, nghiên cứu và các chỉ phí khác. Trong vai trò là người gác công, trường đại học yêu cầu sinh viên phải mua toàn bộ gói sản phẩm vì đó là cách duy nhất đê nhận được tắm bằng có giá trị. Tuy nhiên, nến được lựa chọn, nhiều sinh viên sẽ lựa chọn các dịch vụ mà họ muốn.
Một khi các đơn vị tuyển dụng bỏ đi yêu cầu bằng cấp, hoặc có các giấy chứng nhận khác thay thế, các trường đại học sẽ ngày càng khó khăn hơn trong việc duy trì gói sản phâm cũ. Vì vậy, mà thời gian qua các nền tảng học trực tuyến (MOOC — Massive Online Open Course) như Coursera, Udactty, eDX. có hàng ngàn khóa học với chục triệu sinh viên đăng ký. Amazon, trở thành nhà xuất bản số 01 thế giới, bởi ở đó, không có những Nhà biên tập, tất cả các cuốn sách, bán thảo đều có cơ hội được xuất bản, được tiếp cận người dùng, và chính người dùng sẽ quyết định cuốn sách nào đáng đọc, phù hợp với nhu cầu của mình.
Danh sách best seller books trên Amazon trở thành danh sách quan trọng bậc nhất đối với các tác giả. - Mở ra các nguồn lực mới giúp xây dựng và cung cấp giá trị Uber là hãng taxi lớn nhất thế giới nhưng không sở hữu một chiếc xe nào, và Airbnb là công ty hoạt động trong lĩnh vực lưu trú lớn nhất thế giới mà không sở hữu bất kỳ căn phòng nào. Nói đúng hơn, thay bằng việc sử dụng các nguồn lực, tài sản của doanh nghiệp để cung cấp cho khách hàng, thì các doanh nghiệp nền tảng lại tập hợp tất cả các nguồn lực ở bên ngoài (người có xe ô tô, tài xế taxi — uber hay chủ khách sạn, người có phòng trọ - Airbnb) để cùng cung cấp cho khách hàng có nhu cầu. Điều này vì vậy, tăng tốc độ cung cấp sản phẩm dịch vụ, giảm thiêu rủi ro cho các quyết định đầu tư (xây dựng khách sạn mới, đầu tư xe taxi mới).
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh nền tảng còn thúc đây và tạo ra các nguồn cung mới. Ở các thị trường kinh doanh nền tảng, nguồn cung luôn thay đổi rất nhanh chóng. Khi Uber tiến vào Việt Nam, thị trường vận chuyên đã bị các hãng 14 taxi độc chiếm, các tài xế phải ký hợp đồng (độc quyền) với các hãng taxi như Mai Linh, Vinasun. Nhưng chính nhờ Uber, các tài xế nghiệp dư, những người có xe ô tô, các công ty du lịch, các công ty vận tải, hay các hợp tác xã vận tải trở thành nhà cung cấp.
Một thê hiện của Nền kinh tế chia sẻ. Sự thu hút của Uber lớn đến mức, các ngân hàng còn phải đưa ra các gói cho vay riêng để những người có nhu cầu trở thành nhà cung cấp của Uber được mua xe mới với lãi suất vay thấp. Chỉ trong thời gian ngắn, số lượng xe của các hãng Taxi công nghệ như Uber và Grab đã lớn hơn tổng số phương tiện mà tất cả các công ty taxi truyền thống có được cộng lại. Người ta đã từng lo ngại rằng, khi Chính phủ Việt Nam thắt chặt quy định dẫn đến Uber và Grab dừng hoạt động, thì sẽ có hàng chục ngàn người sẽ không có thu nhập để trả nợ ngân hàng cho chiếc xe họ đã mua.
- Quản trị và kiểm soát chất lượng dựa trên công nghệ và cộng đồng Từ điển bách khoa toàn thư nào hiện nay lớn nhất và mức độ sử dụng nhiều nhất trên thế giới? Đó chính là WIKIPEDIA.