Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT 1. Khái niệm, mục đích và nguyên tắc của áp dụng hình phạt. Khái niệm áp dụng hình phạt “Áp dụng hình phạt là một trong những nội dung chiếm vị trí quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Điều đó thể hiện ở chỗ chỉ HĐXX mới có quyền áp dụng hình phạt.” “ Áp dụng hình phạt là một dạng hoạt động của việc áp dụng pháp luật hình sự, do HĐXX tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhất định.
Để áp dụng chính xác hình phạt cần trải qua quá trình sử dụng kết quả điều tra, buộc tội, thẩm vấn, tranh luận, đối chiếu các tình tiết của vụ án hình sự cụ thể với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể gắn liền với việc đánh giá con người cụ thể đã thực hiện tội phạm để xác định một loại và một mức hình phạt cụ thể tối ưu nhất trong việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.” “Nội dung của áp dụng hình phạt thể hiện ở hai điểm sau: Đầu tiên, Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật được áp dụng; Sau đó, Toà án xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Nội dung này được áp dụng cho cả hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung.” “Khi Tòa án áp dụng hình phạt phải cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc nhân thân người phạm tội, cân nhắc các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, hình phạt còn phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.” “Nói tóm lại, có thể hiểu áp dụng hình phạt là một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở trong bản việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật, tuân theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội. Mục đích của áp dụng hình phạt “Hình phạt được quy định trong BLHS hiện hành hướng đến hai đối tượng một là người phạm tội và hai là phần còn lại của xã hội (tức những cá nhân khác trong xã hội) và nhằm mục đích trừng trị và giáo dục.” “- Xét về lý luận: Về bản chất, hình phạt vẫn là một biện pháp trừng trị.
Việc không thừa nhận bản chất trừng trị của hình phạt là nhằm để thể hiện minh chứng cho thấy rằng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hơn hẳn bản chất bóc lột của các nhà nước khác. Việc quy định mục đích trừng trị của hình phạt cũng không làm thay đổi hay ảnh hưởng đến bản chất tốt đẹp của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.” “- Xét về thực tiễn: Thực tiễn xét xử trong thời gian qua cho thấy, vai trò quan trọng của hình phạt trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội. Với tình hình kinh tế xã hội đầy phức tạp hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng nguy hiểm, đa đạng, có thể kể đến những vụ án như Giết người, cướp tài sản 06 người ở Bình Phước, vụ án Nguyễn Văn Thanh Giết người, hiếp dâm… đối với những trường hợp này do người phạm tội không còn khả năng cải tạo, giáo dục được nữa nên cần thiết phải loại họ ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, trong nhiều trường hợp hình phạt chỉ nhằm mục đích để trừng trị tội phạm.” “- Xét về các quy định của pháp luật: Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã định hướng khi quy trách nhiệm hình sự cần:“nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.
Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác”. Trên cơ sở đó điểm c Khoản 1 Điều 3 BLHS quy định: “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ…”” “Với sự phát triển của xã hội hiện nay, việc áp dụng hình phạt không còn mang đậm chất trừng trị nữa mà mục đích nhằm hướng đến giáo dục người phạm tội cũng như công dân.” 6 “Từ những phân tích trên cho thấy mục đích của áp dụng hình phạt suy cho cùng là nhằm đạt được mục đích hình phạt đặt ra là dùng biện pháp cưỡng chế nhà nước để giáo dục cải tạo người phạm tội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung; góp phần bảo vệ công lý, quyền con nười, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức. Nguyên tắc áp dụng hình phạt “Các nguyên tắc áp dụng hình phạt là những tư tưởng được giải thích dựa vào quy định của pháp luật hình sự. Với tư cách là những tư tưởng định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, đây cùng là một trong những nội dung trọng yếu của chính sách hình sự của Nhà nước ta.” “Hiện nay, có 4 nguyên tắc áp dụng hình phạt:: Một là, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN); hai là, nguyên tắc nhân đạo XHCN; ba là, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt; bốn là, nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt.
Các nguyên tắc này có sự tác động qua lại, bổ sung cho nhau, vừa độc lập tương đối với nhau. Do đó, khi áp dụng các nguyên tắc này cần tránh việc đồng nhất chúng, hoặc là áp dụng một cách đơn lẻ.” Một là, nguyên tắc pháp chế XHCN “Khi áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm Toà án phải tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự. Đây là nguyên tắc quan trọng vì để áp dụng các nguyên tắc khác của chế định áp dụng hình phạt thì tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc này.” Nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN được thể hiện ở các điểm sau: “i. Có thể áp dụng hình phạt chỉ đối với hành vi phạm tội được quy định cụ thể trong luật.
Việc xác định tội danh, áp dụng hình phạt phải đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tòa án chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong BLHS và việc áp dụng một hình phạt phải tuân theo trình tự và các điều kiện áp dụng tuỳ thuộc vào từng loại hình phạt cụ thể. Nguyên tắc này yêu cầu phải có tính hợp lý trong việc áp dụng hình phạt, được thể hiện ở chỗ Toà án phải lựa chọn một loại hình phạt và một mức hình 7 phạt đúng luật và phải phù hợp với các nguyên tắc khác, phù hợp với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.” Hai là, nguyên tắc nhân đạo XHCN Nguyên tắc nhân đạo trong quyết định hình phạt được thể hiện ở các điểm sau: “i. Tòa án phải cân nhắc lợi ích của xã hội, của nhà nước và của người phạm tội một cách hài hòa và hợp lý.
Nhân đạo đòi hỏi phải có thái độ đúng đắn cả đối với lợi ích của Nhà nước lẫn đối với lợi ích của bị cáo. Tòa án tùy theo các tình tiết của vụ án, mức phạt tù và nhân thân người phạm tội, có thể cho hưởng án treo hoặc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật đối với những người phạm tội ít nguy hiểm cho xã hội; những người phạm tội lần đầu; những người thật thà khai báo, tố giác người đồng phạm khác, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra v. Khi áp dụng hình phạt đối với những người phạm tội đặc biệt nguy hiểm; những người tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp v.,, Toà án cần một biện pháp nghiêm khắc, thích hợp, phải tuân theo nguyên lý cơ bản là người bị kết án cũng là con người và mọi người lầm đường lạc lối có thể được giáo dục, cải tạo để trở thành người lao động có ích cho xã hội. Hạn chế sự trừng trị trong áp dụng hình phạt, không cho phép quyết định hình phạt quá mức cần thiết.” Ba là, nguyên tắc cá thể hóa TNHS Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa TNHS thể hiện ở các điểm sau: “i.
Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cụ thể ở mức lớn nhất tạo điều kiện cho việc đạt được các mục đích của hình phạt. Luật pháp đã quy định hai loại chế tài: chế tài xác định tương đối và chế tài tùy nghi. Đa số các chế tài quy định khung hình phạt rất rộng và quy định 8 bằng hai hoặc nhiều loại hình phạt, cho phép Tòa án lựa chọn áp dụng hình phạt phù hợp với từng loại tội phạm.” Bốn là, nguyên tắc công bằng Nội dung của nguyên tắc công bằng thể hiện ở các điểm sau: “i. Loại và mức hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tội phạm đã thực hiện và nhân thân người phạm tội.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc các đặc điểm, tính cách, địa vị xã hội của người phạm tội. Hình phạt được tuyên cần phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội; phải có đủ sức thuyết phục mọi người ở tính đúng đắn, tính công bằng của chính sách xét xử của Nhà nước.2 Nội dung của áp dụng hình phạt 1. Trách nhiệm chứng minh vụ án hình sự “Hoạt động thu thập chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và quyền tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và tại phiên tòa hình sự là những chế định lớn, quan trọng được quy định trong BLTTHS 2015.” “Trong áp dụng hình phạt, việc xác định các tình tiết của vụ án có vai trò quan trọng, nó làm căn cứ cho việc áp dụng hình phạt như các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội, các tình tiết có giá trị giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.