Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về hoa mãn đình hồng 1.1 Nguồn gốc và phân bố Mãn đình hồng còn được gọi là Thục quỳ (Hollyhock hay Hollyhock Mallow), tên khoa học là A/thaea rosea, có nguồn gốc tại các tỉnh phía tây nam của Trung Quốc. Hoa mãn đình hồng được trồng ở nhiều nước trên thế giới điển hình là: An độ, Nga, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, 2022). Ở Việt Nam, hoa mãn đình hồng được du nhập vào nước ta từ những năm 1940 và đến nay đã phát triển ra nhiều tỉnh thành trong cả nước. Trồng tập trung và chủ yếu ở các vùng trồng hoa truyền thống như là: Sa Đéc, TP.
Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Cây trồng bằng hạt, từ khi gieo hạt đến khi ra hoa là 100 — 105 ngày. Hoa nở quanh năm, dep nhưng ít hương thơm (được trính dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc, 2017).2 Phân loại Alcea rosea là một loài thực vật có hoa trong họ Cam quỳ. Loài này được Nhà thực vật học ngưởi Thụy điển Carl Linnaeus mô tả khoa học năm 1753.2 Đặc điểm sinh học 1.1 Rễ Cây có một rễ cái và một hệ thông rễ phụ khá phát triển giúp cây có khả năng chịu hạn tốt.
Rễ phân bố chủ yếu Ở tầng đất mặt tới độ sâu khoảng 30 em (được trính dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc, 2017).2 Thân Mãn đình hồng thuộc cây thân thảo, thân cây nhiều lông cứng thắng đứng, ít hoặc không phân nhánh, những cây sống trong những điều kiện thuận lợi lâu năm ở một số vùng, có thé đạt đến 1,5 — 2 m (Nazeem Fahamiya và cộng sự, 2016).3 Lá La mọc xen kẽ, thường có thùy hình lông chim hay lá kép và có gân lá hình lông chim. Mép lá có thể nguyên, nhưng khi có răng cưa thì một gân kết thúc tại đỉnh mỗi rang (răng cẩm quy). Lá cây mãn đình hồng phiến có thùy, hình bầu dục rút lại ở đáy nơi mà cuống lá tiếp giao với phiến lá, rộng đến 30 em, chia 5 — 7 thùy hình chân vịt không đều nhau, cấp tính. Với những cuống mềm déo, bìa phiến có răng và kết cấu của gân lá hình chân vịt.
Mặt lá thô ráp, có lông trắng (được trính dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc, 2017).4 Hoa Mọc ở phần chóp thân, mọc thành chùm ít khi đơn lẽ. Hoa to, đều, rộng 10-12 cm, lưỡng tính, có hình dạng cái quặng, màu sắc thay đôi, lá bắc từ 6 đến 9. Cánh hoa có màu sắc theo giống trồng: trang, huong, đỏ, vàng (Trung tâm dữ liệu thực vat Việt Nam, 2022).5 Quả và hạt Quả nằm trong đài. Phần lớn thường là quả nang chẻ ngăn, quả nẻ hay quả kiên, nhiều tâm bì chứa một hạt xếp chặt chẽ với nhau chung quanh một trục (được trính dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc, 2017).
Hạt màu nâu đen, hình quả thận, dài khoảng 6 mm, có lông tơ và có lông ở ria (Nazeem Fahamiya va cộng sự, 2016).3 Điều kiện ngoại cảnh ảnh hướng đến cây mãn đình hồng Theo Papone và cộng sự (2007), mãn đình hồng là cây dài ngày, cây khi nhận được 16 giờ chiếu sáng sẽ cho ra những cánh hoa rộng hơn, đồng thời những cánh hoa có xu hướng xếp chồng lên nhau và hoa hap dan hơn. Việc kéo dài quang kỳ bang ánh sáng nhân tạo đã chứng tỏ là một công cụ hiệu quả dé tăng chất lượng của cây trồng trong chậu khi chúng sẵn sàng dé bán. Cây mãn đình hồng là cây ưu sáng, thích hợp trồng nơi thoáng mát, có nhiều ánh sáng, hạn chế nơi có nhiều gió mạnh vì dé làm cây xô lệch ( Lê Đình Nam, 2021). Cây con thích hợp thời tiết mát mẻ, nếu gieo vào hè cần có các biện pháp giảm nhiệt độ.
che bớt nắng vào giờ cao điểm (khoảng 50% ánh sáng), tưới nước bằng giàn phun 2 lần / ngày vào § giờ, 16 giờ (Lê Đình Nam, 2021). Dinh dưỡng: Đề mãn đình hồng sinh trưởng và phát triển tốt cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây. Tùy vào từng giai đoạn mà nhu cần dinh dưỡng khác nhau. Giai đoạn đầu do yêu cầu sinh dưỡng chưa nhiều.4 Ảnh hưởng của giá thể đến cây hoa trồng chậu Theo John và Harold (1999), khi trồng cây trồng chậu giá thể cần có khả năng giữ nước và thông thoáng tốt hơn so với trồng ngoài đồng ruộng.
Nén chặc giá thé làm giảm các khoảng trống và lượng nước hữu dụng cho cây trồng. Tác giả Jiang Qing Hai (2004): khi phối chế các vật liệu trồng cây trong chậu phải chú ý đến tính chất vật lý và hóa học. Tính chat vật lý chủ yếu là độ tơi xốp, thông thoáng khí, kha năng hap thu, khả năng hút nước và độ dầy của vật liệu. Tính chất hóa học chủ yếu là độ chua và khả năng hấp thụ, giải phóng chất dinh dưỡng của vật liệu.
Chỉ số pH khuyến cáo cho giá thể trồng cây là 5,5 — 6,0. Ngoài ra, cần chú ý đến tính kinh tế của giá thé cụ thé như mức độ hữu hiệu với vật liệu nuôi cây có thé sử dụng lại, dé lấy, tiện loi, dé phối trộn, giá thành rẻ sạch sẽ, không mùi. Theo Nguyễn Thị Phương Thảo (1998), việc xác định môi trường dinh dưỡng có ý nghĩa rất quan trọng. Loại giá thể khác nhau có ảnh hưởng trực tiếp đếnh tỉ lệ sống của cây con.
Sản xuất giá thé đặt nền tang cho việc phòng trừ cỏ dai. Giá thé hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại cho giá thể đồng thời làm tăng chất lượng, năng suất cây con và lam giảm bot thời gian sản xuât giông. Vật liệu được sử dụng làm giá thé cũng rat đa dang, dé tìm va thân thiện với môi trường. Các giả thé thường có khả năng giữ nước và thoát nước tốt, là môi trường giúp cây giữ chất dinh dưỡng và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây hút dé dàng.
Giá thé được cho là lý tưởng cần có trữ lượng dinh dưỡng dễ cung cấp cho cây, phân bón dễ dàng chuyền hóa thành dạng dễ hấp thu, hạn chế rửa trôi, duy trì độ thoảng khí tốt, giữ và cung cap nước, đinh dưỡng day đủ, vật liệu phải nhẹ, dé dang vận chuyên cũng như an toàn cho sức khỏe con người và môi trường (Nguyễn Quỳnh Anh và Hà Duy Trường 2022). Hiện nay có nhiều loại giá thé khác nhau nhưng theo FAO có thể xếp các giá thé vào hai loại: giá thể hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên và giá thé vô cơ giá thé tro cứng. Giá thé hữu cơ bao gồm: mụn dia, tro trau, bã đậu nành, vỏ trau.5 Ảnh hướng của NPK lên cây trồng Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh đến sinh trưởng và phát triển của cây. Việc cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng 1a biện pháp hữu hiệu dé nâng cao năng suất va chất lượng hoa.
Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ còi cọc, chậm lớn, hoa nhỏ yếu chậm phát triển, chất lượng hoa kém. TS Đường Hồng Dat, 2008: Cần bón đạm cân đối với đặc tính và nhu cầu của loài cây trồng, thậm chí là của giống cây trồng trong cùng một loại cây. Nhu cầu của các loài cây đối với đạm rất khác nhau, có loài (giống) cây có yêu cầu nhiều đạm, có loại (giống) cây có yêu cầu, ít đạm. Bón đạm thấp hơn yêu cầu của cây, cây sinh trưởng yếu ớt, đẻ nhánh ít, cành lá thưa thớt, lá có màu xanh nhợt nhạt, cây cho năng suất thấp.
Khi bón quá nhiều đạm, vượt cao hơn yêu cầu của loài (giống) cây, đạm gây hại cho cây, làm cho cây lốp, lá xanh đậm, sức chống chịu với sâu bệnh hại cây giảm sút, cây phát triển nhiều thân lá mà ra hoa quả ít. Cân đối đạm với nhu cầu của cây tuỳ thuộc vào lượng phân đạm được bón và lượng phân lân, kali. Cùng một lượng phân đạm nhưng nếu có đủ PzOs và K20, lượng đạm đó là cân đối và phát huy tác dụng tốt đối với cây. Nhưng với lượng phân đạm đó mà lượng PzOs, K2O ít thì xảy ra tình trạng mắt cân đối, một phan đạm thừa ra và gây hại cho cây.
Thời điểm bón đạm tốt nhất là lúc cây sinh trưởng thân cành lá mạnh nhất. Lân có vai trò quan trọng cho việc phát triển rễ cây. Phân lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi bên ngoài như: tăng tính chịu rét, chịu hạn, tăng sức chịu chua đất, tăng tính chống chịu với một số loài sâu bệnh hại cây. Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyền hóa năng lượng trong các quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây.
Phân kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và khả năng chống chịu đối với một số loại sâu bệnh hại cây. Phan kali tao cho cây cứng, chắc, ít dé ngã, tăng khả năng chịu ung, chịu hạn, chịu rét.6 Một vài nghiêm cứu về hoa mãn đình hồng (Althaea rose) Theo Papone và cộng sự (2007), mãn đình hồng khi nhận được 16 giờ chiếu sáng sẽ cho ra những cánh hoa rộng hơn, đồng thời những cánh hoa có xu hướng xếp chồng lên nhau và hoa hap dẫn hơn. Việc kéo dai quang ky bằng ánh sáng nhân tạo đã chứng tỏ là một công cụ hiệu quả đề tăng chất lượng của cây trồng trong chậu khi chúng sẵn sàng để bán. Rana Roy và cộng sự (2016), thực hiện nghiên cứu áp dụng kết hợp nước (W), phân hữu co (SMC) và than sinh học (WB) cho các mỏ than bị suy thoái đất, dé thúc day tăng trưởng mãn đình hồng (A/thaea rosea) và tạo điều kiện cho việc phục hồi của đất.
Kết quả hiệu suất tăng trưởng tốt nhất đưới liều tối ưu W (60%), SMC (1,4%) và WB (0,8%) cho thay việc phục hồi mãn đình hồng (Alfhaea rosea) với liều W-SMC- WB được khuyến nghị sẽ là một cách tiếp cận phù hợp và thân thiện với môi trường dé phục hôi sinh thái ở những khu vực bị suy thoái khô can. Kamalil va cộng sự (2010), thực hiện nghiên cứu xác định khả năng của A. rosea để loại bỏ Cu khỏi đất bị ô nhiễm bằng cách áp dụng một gradient nồng độ của Cu và cũng đề đánh giá ảnh hưởng của các mức nồng độ đồng khác nhau đến các thông số sinh trưởng của A.rosea có kha năng chống chịu với Cu vì nó phát triển tốt trong đất có 80 mg kg"! Cu. rosea có tiềm năng rất lớn dé được sử dụng dé làm ôn định phytostabilization đối với đất bị ô nhiễm bởi Cu.
Điều quan trọng là A.