Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Trung Sơn, chuyên ngành Trồng trọt, Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Quỳnh vào năm 2015. Đề tài tập trung vào việc đánh giá tác động của dinh dưỡng qua lá đối với sinh trưởng, năng suất và chất lượng thương phẩm của hoa loa kèn (Lilium formolongo) trong điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên.
Về bối cảnh thực tiễn, kinh tế phát triển kéo theo nhu cầu thưởng thức hoa cây cảnh của xã hội ngày càng gia tăng. Hoa loa kèn là loài cây cảnh có giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế cao, có nguồn gốc từ Nhật Bản và được phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia như Hà Lan, Trung Quốc, Đan Mạch. Tại Việt Nam, hoa loa kèn được du nhập và canh tác phổ biến tại Đà Lạt, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định... Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm kinh tế - văn hóa thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc với diện tích tự nhiên 3.562,82 km², hệ thống giao thông thuận lợi dọc theo Quốc lộ 3 và là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, hình thành thị trường tiêu thụ hoa tương đối lớn. Tuy nhiên, nghề sản xuất hoa tại địa phương này chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, manh mún, chưa ứng dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật thâm canh mới, khiến năng suất và chất lượng hoa chưa cao, chưa đáp ứng tốt nhu cầu thị trường.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Xác định loại phân bón lá thích hợp nhằm tăng năng suất và chất lượng hoa loa kèn tại Thái Nguyên.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu của đề tài gồm 2 nội dung chính:
- Theo dõi ảnh hưởng của các loại phân bón lá khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hoa loa kèn.
- Theo dõi khả năng chống chịu sâu bệnh hại của hoa loa kèn ở các công thức phân bón khác nhau.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống hoa loa kèn trồng bằng hạt nhập nội từ Trung Quốc (Lilium formolongo); 3 loại phân bón lá thương phẩm gồm Antonik (Atonik), GA3, Đầu Trâu 907 và đối chứng tưới nước lã.
- Phạm vi không gian: Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí tại Xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2014 đến tháng 05/2015 (thời vụ Xuân Hè 2015, xuống giống ngày 15/01/2015, thời gian sinh trưởng từ trồng đến thu hoạch dao động 110–140 ngày).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các đặc tính sinh học thực vật và cơ chế dinh dưỡng qua lá:
- Về phân loại thực vật: Cây hoa loa kèn thuộc ngành Hạt kín, lớp Một lá mầm (Monocotyledones), phân lớp Hành (Liliidae), họ Hành (Liliaceae), chi Lilium, loài Lilium formolongo.
- Về sinh lý dinh dưỡng khoáng qua lá: Cây hấp thụ dưỡng chất qua hệ thống khí khổng và các vi rãnh trên lớp cutin của bề mặt lá. Hiệu suất hấp thu dinh dưỡng qua lá đạt từ 90–95%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 40–50% khi bón qua đất, do diện tích bề mặt lá lớn gấp 15–20 lần diện tích đất phủ tán. Phương pháp này cung cấp nhanh các nguyên tố đa lượng (N, P, K), trung lượng và vi lượng (Fe, Zn, Cu, Mg...), điều hòa sinh trưởng, đặc biệt hữu hiệu khi bộ rễ gặp bất lợi hoặc khi cây chuyển từ pha sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng gồm 4 công thức với 3 lần nhắc lại.
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Tưới nước sạch thông thường.
- Công thức 2 (CT2): Phun phân bón lá Antonik.
- Công thức 3 (CT3): Phun phân bón lá GA3.
- Công thức 4 (CT4): Phun phân bón lá Đầu Trâu 907.
- Quy cách thực nghiệm: Mật độ trồng 50 hạt/m², khoảng cách 20 cm x 10 cm. Mỗi công thức bố trí 450 hạt, tổng số cây thí nghiệm là 1.800 hạt. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 3,6 m², tổng diện tích thí nghiệm 32,4 m² (mỗi công thức chiếm 10,8 m² qua 3 lần nhắc lại).
- Chế độ chăm sóc: Phun phân bón lá định kỳ 10 ngày/lần cho từng công thức ngay sau khi hạt nảy mầm. Các biện pháp kỹ thuật khác (làm đất, bón lót phân chuồng hoai mục, lân, kali, làm cỏ, tưới nước) được thực hiện đồng nhất.
- Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
- Chọn cố định 10 cây/ô thí nghiệm (30 cây/công thức), theo dõi định kỳ 15 ngày/lần về động thái ra lá, tăng trưởng chiều cao cây, kích thước lá (đo 30 lá tính trung bình), đường kính thân cách gốc 10 cm, kích thước nụ, ngày nở hoa, độ bền hoa trên vườn và độ bền hoa cắm lọ.
- Theo dõi sâu bệnh hại: Điều tra định kỳ 7 ngày/lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc (mỗi điểm 5 cây, diện tích 1 m²) dựa trên quy chuẩn phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật của Viện Bảo vệ thực vật (1997, 1999, 2000).
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê toán học bằng phần mềm Excel 2000 (theo tài liệu của Lê Thanh Dũng, 2004) và phần mềm IRRISTAT 4.0 (theo tài liệu của Phạm Tiến Dũng, 2002) để tính toán sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức tin cậy 95% (LSD0.05) và hệ số biến động (CV%).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng thị trường hoa tại Thái Nguyên và thực trạng hạn chế về năng suất, chất lượng do tập quán canh tác truyền thống. Xác định mục tiêu lựa chọn phân bón lá thích hợp; thiết lập 2 nhiệm vụ theo dõi sinh trưởng và sâu bệnh; đồng thời xác định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung tư liệu nghiên cứu hoa củ và ý nghĩa thực tiễn giúp người trồng nâng cao thu nhập.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Tổng quan hệ thống hóa tài liệu khoa học về nguồn gốc, đặc điểm thực vật học của hoa loa kèn gồm thân vảy (củ), rễ thân, rễ gốc, thân, lá, hoa, quả. Mô tả 4 giai đoạn sinh trưởng tự nhiên và các yêu cầu ngoại cảnh: nhiệt độ thích hợp ban ngày 20–28°C, ban đêm 13–27°C; ẩm độ 70–80%; đất giàu mùn, pH 6,0–7,0; tính mẫn cảm với muối và flo. Chương này cũng phân tích kỹ thuật canh tác (thời vụ tháng 10–11 cho hoa tháng 4, mật độ 25–30 củ/m² hoặc gieo hạt), các bệnh chính (vết trắng lá do Septoria, thán thư do Colletotrichum sp., thối xám do Pseudomonas marginata), biện pháp điều tiết hoa nở sớm/muộn, xử lý hóa chất cắm hoa bằng STS (Silver thiosulphate) 0,1%. Phần tổng quan còn cung cấp số liệu sản xuất hoa tại Hà Lan, Canada, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, cũng như diện tích hoa tại Việt Nam (Lâm Đồng 2.027 ha, Hà Nội 2.100 ha năm 2014) và các nghiên cứu dinh dưỡng qua lá như chế phẩm KH, Thiên Nông, phân bón FID, nghiên cứu của Danai và Tongmai (1995), Nakamura và Kageyama (1993).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chi tiết hóa phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng tại xã Quyết Thắng (Thái Nguyên) vụ Xuân Hè 2015; quy chuẩn 4 công thức thí nghiệm, 3 lần nhắc lại trên 1.800 cá thể; quy trình đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, kích thước nụ, động thái nở hoa, phương pháp điều tra sâu bệnh của Viện Bảo vệ thực vật và công thức hạch toán hiệu quả kinh tế nông hộ dựa trên giá bán buôn tại địa phương.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương thực nghiệm cung cấp các dẫn liệu định lượng cụ thể qua từng tiểu mục:
- Tỷ lệ và sức mọc mầm của hạt: Công thức 2 (Antonik) cho sức nảy mầm nhanh nhất, sau gieo 4 ngày đã đạt 35,1% và kết thúc nảy mầm sau 9 ngày (đạt 97,3%). Công thức 1 (Đối chứng) nảy mầm chậm nhất, sau 4 ngày chỉ đạt 7,8%, sau 7 ngày đạt 39,6% và kéo dài đến ngày thứ 14 mới đạt 95,6%. Công thức 4 (Đầu Trâu 907) đạt tỷ lệ mọc mầm tổng thể cao nhất toàn thí nghiệm với 98,2% (442/450 hạt).
- Động thái ra lá: Số lá tăng nhanh trong giai đoạn 45–90 ngày sau trồng. CT3 (GA3) có động thái ra lá mạnh nhất, đạt đỉnh ở 120 ngày với trung bình 102,47 lá/cây (sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng ở LSD0.05 = 11,5). CT4 đạt 76,10 lá/cây và CT2 đạt 65,57 lá/cây (đạt tối đa ở 105 ngày), tạo bộ tán cân đối. CT1 có số lá thấp nhất, đạt 48,53 lá/cây ở 90 ngày.
- Tăng trưởng chiều cao thân: CT3 tăng trưởng chiều cao mạnh nhất, đạt trung bình 115,67 cm khi thu hoạch (LSD0.05 = 13,4). Tuy nhiên, thân quá cao khiến cây mảnh, dễ cong queo, đổ ngã. CT4 đạt chiều cao 98,70 cm; CT2 đạt 90,80 cm; CT1 đạt 86,47 cm. Chiều cao của CT4 và CT2 được đánh giá phù hợp với tiêu chuẩn hoa cắt cành.
- Đặc điểm hình thái: CT2 có đường kính thân lớn nhất đạt 1,27 cm (chiều rộng lá 4,67 cm; dài lá 12,34 cm; tỷ lệ lá biến dạng thấp nhất 1,3%). CT4 có đường kính thân 1,11 cm (rộng lá 3,67 cm; dài lá 12,50 cm; tỷ lệ lá biến dạng 1,6%). CT3 có lá hẹp và dài nhất (rộng 3,53 cm; dài 14,07 cm), đường kính thân 0,97 cm và tỷ lệ lá biến dạng cao nhất (3,12%). CT1 có đường kính thân nhỏ nhất (0,83 cm).
- Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn: CT1 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất: ra nụ sau 76,7 ngày (50% cây), nụ chuyển màu trắng sau 102,0 ngày và hoa thứ nhất nở hoàn toàn sau 110,3 ngày. Việc xử lý phân bón lá làm kéo dài thời gian sinh trưởng sinh dưỡng: CT4 có 50% cây nở hoa hoàn toàn sau 127,7 ngày; CT2 sau 125,3 ngày; CT3 kéo dài nhất tới 136,0 ngày.
- Chất lượng hoa và độ bền: CT4 cho chất lượng thương phẩm vượt trội: số nụ bình quân đạt 2,8 nụ/cây; đường kính nụ 4,65 cm; chiều dài nụ 13,6 cm; đường kính hoa khi nở 13,5 cm; tỷ lệ hoa nở 99,8%; được thị trường đánh giá rất ưa chuộng. CT3 đạt 2,6 nụ/cây; đường kính nụ 3,95 cm; đường kính hoa 12,8 cm. CT1 có chất lượng thấp nhất với 1,7 nụ/cây; đường kính nụ 3,56 cm; đường kính hoa 9,40 cm.
- Độ bền hoa: Độ bền hoa lưu trên vườn luôn dài hơn độ bền hoa cắt cắm lọ. CT4 có độ bền cao nhất: 16,6 ngày trên vườn và 13,2 ngày cắm lọ. CT1 thấp nhất với 11,4 ngày trên vườn và 9,3 ngày cắm lọ.
- Tình hình sâu bệnh hại: Thí nghiệm ghi nhận 1 loài sâu hại là rệp (Coccus cacti) và 3 loại bệnh: khô đầu lá (Upper leaf necrosis), cháy lá (Leaf scorch), thui nụ. Rệp và bệnh cháy lá có tần suất xuất hiện cao. CT4 có mức nhiễm rệp thấp nhất (4,5%), bệnh khô đầu lá thấp nhất (6,4%), tỷ lệ thui nụ thấp nhất (4,5%) và không bị bệnh cháy lá (0,0%). CT2 bị bệnh cháy lá nặng nhất (28,5%) và khô đầu lá 12,3%. CT3 bị thui nụ cao nhất (8,2%).
- Hiệu quả kinh tế: Hạch toán trên quy mô 10,8 m² (mật độ 50 hạt/m², chi phí giống 350 đồng/hạt):
- CT1 (Đối chứng): Thu 417 cây (tỷ lệ 92,7%), giá bán buôn 700 đồng/cây; tổng thu 291.900 đồng; tổng chi 157.500 đồng; thu nhập hỗn hợp 134.400 đồng; lãi thuần 34.400 đồng; hệ số hiệu quả kinh tế 0,85 lần.
- CT2 (Antonik): Thu 420 cây (93,4%), giá bán 1.500 đồng/cây; tổng thu 630.000 đồng; tổng chi 302.500 đồng; thu nhập hỗn hợp 321.500 đồng; lãi thuần 171.500 đồng; hệ số hiệu quả 1,04 lần.
- CT3 (GA3): Thu 424 cây (94,2%), giá bán 2.000 đồng/cây; tổng thu 848.000 đồng; tổng chi 308.500 đồng; thu nhập hỗn hợp 539.500 đồng; lãi thuần 389.500 đồng; hệ số hiệu quả 1,75 lần.
- CT4 (Đầu Trâu 907): Thu 431 cây (95,7%), giá bán 2.500 đồng/cây; tổng thu 1.077.500 đồng; tổng chi 342.500 đồng; thu nhập hỗn hợp 735.000 đồng; lãi thuần 585.000 đồng; hệ số hiệu quả kinh tế đạt 2,15 lần.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đúc kết các phản ứng sinh học riêng biệt của từng loại phân bón lá (Antonik kích mầm, GA3 kéo dài thân lá, Đầu Trâu 907 tối ưu hoa và kinh tế). Đề xuất áp dụng phân bón lá cho cây trồng và tiếp tục mở rộng khảo nghiệm các công thức phối hợp cũng như các chế phẩm khác (Đầu Trâu 502, Pomior).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng cụ thể mức độ ảnh hưởng của 3 loại phân bón lá đối với hoa loa kèn trồng hạt thông qua hệ thống số liệu so sánh trực tiếp giữa các nghiệm thức:
| Chỉ tiêu theo dõi |
CT1 (Đối chứng) |
CT2 (Antonik) |
CT3 (GA3) |
CT4 (Đầu Trâu 907) |
Sai số thống kê (LSD0.05 / CV%) |
| Tỷ lệ nảy mầm tổng thể (%) |
95,6 |
97,3 |
97,8 |
98,2 |
- |
| Thời gian bắt đầu nảy mầm (ngày sau trồng) |
7 |
4 |
4 |
4 |
- |
| Số lá trung bình/cây (lá) |
48,53 |
65,57 |
102,47 |
76,10 |
LSD0.05 = 11,5; CV = 9,2% |
| Chiều cao cây thu hoạch (cm) |
86,47 |
90,80 |
115,67 |
98,70 |
LSD0.05 = 13,4; CV = 6,8% |
| Đường kính thân cách gốc 10 cm (cm) |
0,83 |
1,27 |
0,97 |
1,11 |
LSD0.05 = 0,16; CV = 7,7% |
| Tỷ lệ lá biến dạng (%) |
2,40 |
1,30 |
3,12 |
1,60 |
- |
| Số nụ trung bình/cây (nụ) |
1,7 |
2,1 |
2,6 |
2,8 |
LSD0.05 = 0,28; CV = 6,0% |
| Chiều dài nụ hoa trước nở (cm) |
11,8 |
12,2 |
12,7 |
13,6 |
LSD0.05 = 1,01; CV = 4,1% |
| Đường kính hoa khi nở (cm) |
9,40 |
11,30 |
12,80 |
13,50 |
LSD0.05 = 1,67; CV = 6,7% |
| Thời gian 50% cây nở hoa hoàn toàn (ngày) |
110,3 |
125,3 |
136,0 |
127,7 |
- |
| Độ bền hoa cắm lọ (ngày) |
9,3 |
10,5 |
12,6 |
13,2 |
- |
| Tỷ lệ cây bị rệp hại (%) |
6,3 |
7,4 |
8,2 |
4,5 |
- |
| Tỷ lệ cây bị bệnh khô đầu lá (%) |
7,8 |
12,3 |
8,6 |
6,4 |
- |
| Tỷ lệ cây bị bệnh cháy lá (%) |
12,2 |
28,5 |
0,0 |
0,0 |
- |
| Lãi thuần trên 10,8 m² (đồng) |
34.400 |
171.500 |
389.500 |
585.000 |
- |
| Hệ số hiệu quả kinh tế (lần) |
0,85 |
1,04 |
1,75 |
2,15 |
- |
Đóng góp của tác giả và giải pháp đề xuất:
- Khẳng định phân bón lá Đầu Trâu 907 mang lại hiệu quả toàn diện nhất cho hoa loa kèn trồng bằng hạt tại Thái Nguyên: nâng cao tỷ lệ hoa thương phẩm loại 1, kéo dài độ bền cắm lọ thêm 3,9 ngày so với đối chứng, hạn chế sâu bệnh và đạt lãi thuần 585.000 đồng/10,8 m² (cao hơn 17 lần so với đối chứng tưới nước lã).
- Làm rõ tính chất tác động của chất kích thích sinh trưởng GA3: mặc dù giúp gia tăng số lá và chiều cao cây vượt trội, nhưng GA3 đơn lẻ làm tăng tỷ lệ biến dạng lá (3,12%), tỷ lệ thui nụ cao (8,2%), thân cây mảnh dễ đổ, giảm giá trị thương mại cành cắt.
- Khẳng định vai trò của Antonik trong giai đoạn đầu nhằm phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của hạt, rút ngắn thời gian mọc mầm còn 4 ngày so với 7 ngày của đối chứng.
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật: Áp dụng phương pháp cung cấp dinh dưỡng qua lá định kỳ 10 ngày/lần trong sản xuất hoa loa kèn; phối hợp linh hoạt các chế phẩm ở từng giai đoạn phát triển nhằm tối ưu hóa năng suất và hiệu quả kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi một vụ sản xuất (Xuân Hè 2015, từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015) trên quy mô diện tích hẹp (32,4 m²) tại một địa điểm duy nhất (xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên), do đó chưa đánh giá được biến động sinh trưởng qua các vụ khí hậu khác nhau (vụ Đông Xuân) hoặc trên các loại đất khác nhau trong tỉnh.
- Thí nghiệm khảo nghiệm độc lập 3 loại phân bón lá thương phẩm riêng rẽ trong suốt chu kỳ sinh trưởng, chưa thiết kế các nghiệm thức phối hợp luân phiên giữa các loại phân bón theo từng giai đoạn phát dục cụ thể (ví dụ: dùng Antonik kích mầm, kết hợp Đầu Trâu giai đoạn nuôi nụ).
Hướng nghiên cứu tiếp được đề xuất:
- Tiếp tục nghiên cứu trên các công thức phối kết hợp nhiều loại phân bón lá với nhau ở từng giai đoạn sinh trưởng để phát huy tối đa ưu thế của từng chế phẩm.
- Mở rộng khảo nghiệm thêm các loại phân bón lá khác như Đầu Trâu 502, Pomior... nhằm tìm ra quy trình dinh dưỡng qua lá hoàn chỉnh, ổn định để chuyển giao vào sản xuất đại trà.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Hoa cây cảnh làm tài liệu tham khảo về phương pháp bố trí thực nghiệm đồng ruộng, quy chuẩn theo dõi các chỉ tiêu hình thái học hoa loa kèn (Lilium formolongo) và kỹ thuật xử lý số liệu nông thái học bằng IRRISTAT và Excel.
- Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc tham khảo quy trình phun phân bón lá định kỳ 10 ngày/lần, phương pháp phòng trừ rệp và bệnh cháy lá trên hoa loa kèn trồng bằng hạt.
- Người sản xuất hoa thương phẩm tham khảo bảng hạch toán hiệu quả kinh tế, phương pháp tính toán chi phí đầu vào và doanh thu thực tế khi ứng dụng chế phẩm Đầu Trâu 907 và Antonik để nâng cao phẩm cấp hoa cắt cành.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đã thử nghiệm các loại phân bón lá nào và chu kỳ phun được thực hiện như thế nào?
Khóa luận thử nghiệm 3 loại phân bón lá thương phẩm gồm: Antonik (CT2), GA3 (CT3), Đầu Trâu 907 (CT4) và đối chứng tưới nước lã (CT1). Sau khi hạt mọc mầm, các loại phân bón lá được phun định kỳ 10 ngày/lần cho từng công thức thí nghiệm tương ứng.
2. Công thức nào cho tốc độ mọc mầm nhanh nhất và công thức nào đạt tỷ lệ mọc mầm tổng thể cao nhất?
Công thức 2 (Antonik) cho tốc độ mọc mầm nhanh nhất: sau gieo 4 ngày đã nảy mầm 35,1% và kết thúc nảy mầm sau 9 ngày. Công thức 4 (Đầu Trâu 907) đạt tỷ lệ mọc mầm tổng thể cao nhất toàn thí nghiệm với 98,2% (442 hạt nảy mầm trên 450 hạt gieo).
3. Vì sao công thức sử dụng GA3 (CT3) làm tăng chiều cao và số lá cao nhất nhưng không được coi là tối ưu cho hoa cắt cành?
Dưới tác động của GA3, cây đạt chiều cao 115,67 cm và số lá lên tới 102,47 lá/cây, tuy nhiên thân cây phát triển vống, nhỏ (đường kính chỉ 0,97 cm), dễ bị cong queo hoặc đổ ngã làm xấu hình thức cành hoa. Ngoài ra, CT3 có tỷ lệ lá biến dạng cao nhất (3,12%) và tỷ lệ thui nụ cao nhất (8,2%), làm giảm giá trị thương mại.
4. Sự khác biệt về chất lượng hoa và độ bền cành cắt giữa công thức Đầu Trâu 907 (CT4) và công thức đối chứng (CT1) là bao nhiêu?
CT4 vượt trội so với CT1 ở mọi chỉ tiêu chất lượng: số nụ bình quân đạt 2,8 nụ/cây (so với 1,7 nụ của CT1); đường kính nụ 4,65 cm (so với 3,56 cm); chiều dài nụ 13,6 cm (so với 11,8 cm); đường kính hoa khi nở đạt 13,50 cm (so với 9,40 cm). Về độ bền hoa cắt cắm lọ, CT4 duy trì được 13,2 ngày, dài hơn 3,9 ngày so với mức 9,3 ngày của CT1.
5. Hiệu quả kinh tế của công thức Đầu Trâu 907 (CT4) chênh lệch như thế nào so với đối chứng (CT1) trên diện tích 10,8 m²?
Trên diện tích 10,8 m², CT4 đạt tổng thu 1.077.500 đồng, lãi thuần 585.000 đồng và hệ số hiệu quả kinh tế 2,15 lần. Ngược lại, CT1 chỉ đạt tổng thu 291.900 đồng, lãi thuần 34.400 đồng và hệ số hiệu quả kinh tế 0,85 lần. Lãi thuần của CT4 cao gấp khoảng 17 lần so với CT1.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Trung Sơn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác định loại phân bón lá thích hợp cho hoa loa kèn trồng bằng hạt tại Thái Nguyên trong vụ Xuân Hè 2015. Kết quả thực nghiệm đồng ruộng khẳng định phân bón lá Đầu Trâu 907 mang lại hiệu quả tổng hợp cao nhất về chỉ tiêu sinh trưởng, kích thước nụ, độ bền hoa cắt, hạn chế sâu bệnh hại và mang lại lãi thuần 585.000 đồng/10,8 m². Công trình đồng thời chỉ rõ vai trò kích thích mọc mầm của Antonik và những tác động tiêu cực của việc lạm dụng GA3 đơn lẻ đối với phẩm cấp cành hoa. Dẫn liệu định lượng trong khóa luận cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng cho việc hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc dinh dưỡng qua lá đối với hoa loa kèn tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.