Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu về cây táo 1. Đặc điểm thực vật học của cây táo Cây táo ta (Zizyphus Mauritiana L.) thuộc chi Zizyphus, họ thực vật Rhamnaceae, có khoảng 85 loài, tiểu mộc hay mọc thành bụi. Thân cây táo thuộc dạng thân gỗ, nửa bụi, sinh trưởng và phát triển nhanh.
Trên thân và cành cây táo có nhiều gai. Ở các cấp cành dưới, gai tương đối cứng, sau đó có thé gay và rụng dần. Cây táo có thể là loại cây bụi ram rạp, cao từ 1,2-1,8m hoặc cây thân gỗ cao từ 3-10m; các giống cũ trồng lâu năm trong vườn nhà có cây cao trên 10 m, các giống táo mới và dùng kỹ thuật đốn nên cây chỉ cao 2 — 3 m. Lá đơn nguyên mọc cách, hình trứng hoặc elip thuôn dài, dễ phân biệt với táo Tau (Ziziphus jujuba) bởi sự có mặt của các sợi lông tơ dày đặc, mềm như lụa, có màu nâu hay trắng ở mặt dưới cũng như cuống lá non thì ngắn và có lông.
Ở mặt trên có màu xanh lục thẫm, bóng mặt và với ba gân lá theo chiều dọc, dễ thấy và bị nén xuống cũng như các răng cưa rất rõ ở mép lá, ba gân gốc nỗi rõ ở mặt dưới. Hoa táo tương đối nhỏ tập trung thành chùm ở nách lá, màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở giữa và đầu cành. Táo là loài cây dị hoa thụ phấn. Quả và hạt: quả hình cầu, đường kính 3-5 em, trọng lượng 15 — 25 gam/quả.
Vỏ mỏng, nhẫn bóng và dính liền với phan thịt, khi chín có màu vàng nhạt. Trong mỗi quả có một hạt. Hạt táo có vỏ rất cứng và san sùi. Rễ táo phát triển mạnh, cả bề sâu và bé rộng, có thé ăn xa gap 5 - 6 lần đường.
Đặc điểm giống táo TN05 Giống táo TN05 có một số đặc điểm như: sinh trưởng, phát triển mạnh. Thời gian sinh trưởng từ ra hoa đến thu hoạch quả từ 155 - 165 ngày: thời gian từ khi trồng (cây ghép) đến khi cho thu hoạch lứa đầu tiên khoảng 10 tháng năng suất thực thu đạt 45 - 70 tan/ha. Tiềm năng năng suất cao hon han các giống táo thông thường, cu thé:nang xuất trung bình ở năm đầu tiên đạt 9 kg/cây, năm thứ 2 đạt khoảng 20 kg/cây. Táo TN05 phù hop trồng trên nhiều loại đất nhưng thích hợp đất thịt pha cát, phù sa ven sông, cần nhiều ánh sáng và đủ âm, pH từ 5-7.
Đặc điểm hình thái: Lá to, đài mọc so le, phiến lá cong, mặt trên màu xanh đậm bóng, mặt lá dưới có nhiều lông màu trắng, khả năng phân cành trung bình; hoa nhỏ, có 5 cánh hoa, màu vàng nhạt, tạo thành cum hoa gồm 5-10 hoa trong mỗi nách lá; quả có khối lượng trung bình từ 75 - 85 g/quả, quả lớn có thé dat từ 150 - 180 g/qua (6-7 qua/kg), vỏ quả có mau lục nhạt khi còn xanh khi chín màu xanh vàng, quả dài đáy quả bầu. Quả chín có vị ngọt thanh, thịt quả màu trang, an gion, ngot, thom, độ Brix trung bình từ 11,5 - 13,0%; tổng chất rắn hòa tan đạt 15%, hàm lượng vitamin C đạt trên 35 mg/100g thịt quả; thân gỗ chiều cao cây (sau trồng 3 năm) đạt trung bình 3,13 m; đường kính gốc đạt 8,95 cm; đường kính tan đạt 4,66 m. Yêu cầu sinh thái của cây táo Nhiệt độ: Do nguồn gốc cây táo từ vùng nhiệt đới và A nhiệt đới nên có yêu cầu nhiệt độ tương đối cao. Hạt muốn nảy mam cần nhiệt độ trung bình trên 15°C, nảy mam tốt nhất ở 20 - 25°C.
Đối với cây lớn, ở nhiệt độ đưới 15°C hầu như ngừng sinh trưởng, không ra cảnh mới hoặc cành lá non không lớn lên được. Khi nhiệt độ càng tăng táo sinh trưởng càng mạnh. Thậm chí nhiệt độ ngoài trời tăng trên 40°C người ta cũng không thấy hiện tượng táo bị hại. Táo phân hóa mầm hoa tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ 25 — 30°C (Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn, 2002).
Ánh sáng: Táo thuộc loại cây ưa sáng nên suốt cả quá trình nảy mầm đến quả chín đều đòi hỏi ánh sáng mạnh. Nếu thiếu ánh sáng, cành mảnh, lướt, mật độ cành thấp, lá vàng hoặc xanh tối, đặc biệt là hoa dé bị rụng hoặc khó thụ phan thụ tinh, làm cho quá ít, năng suất và phâm chất đều kém (Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn, 2002). Nước: Táo rat cần nước vì có khối lượng lá, hoa quả nhiều, tông diện tích thoát hơi nước rất lớn. Do đó táo luôn luôn yêu cầu âm đất 70 - 75%, nếu thấp dưới 70% thì sinh trưởng chậm quả bé.
Vì thế, trong thời kỳ gặp hạn phải chú ý tưới nước đầy đủ. Tuy táo có kha năng chịu 4m và chịu ung, nhưng bi ung kéo dài cũng không lợi, cây con dé bi chết, cây lớn dễ bị vàng lá, rụng hoa, rụng quả non và thối quả nặng, đặc biệt khi âm độ không khí cao trên 85% (Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn, 2002). Đất đai: Bộ rễ táo phân bố khá rộng và sâu, có khi đâm sâu trên Im và lan rộng tới 10m, trong đó rễ tơ (mang nhiều rễ hap thu dinh dưỡng) tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt 20 — 10 em và ở phạm vi trong và ngoài tán cây. Mặt khác, hàng năm, mỗi cây táo 5 tuổi có thé san sinh khoảng 100 kg quả, 100 kg lá, 50 kg cảnh tươi đòi hỏi một khối lượng chất dinh dưỡng khá lớn.
Vì vậy, sự sinh trưởng phát triển của cây táo chịu ảnh hưởng nhiều ở tính chất và độ phì của đất. Nếu táo được trồng ở đất sét nặng, đất cát thiếu chất dinh dưỡng sẽ sinh trưởng rất chậm, trong hoàn cảnh này phải bô sung một lượng lớn chất hữu cơ cho đất kết hợp với một tỷ lệ dam, lân, kali, canxi thích hợp. Táo còn ưa đất trung tính hay hơi kiềm, nên khi trồng táo trên đất chua cần phải bón với cái tạo đất (Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn, 2002). Vai trò của lân, kali và phân bón lá đối với sinh lý cây trồng 1.
Vai trò của lân Phân lân là loại phân bón có chứa nguyên tố dinh đưỡng photpho (P). Nguyên tố này là một chất đinh dưỡng quan trọng cho sự sinh trưởng của thực vật ở cấp độ tế bào đến toàn bộ cây trồng. Các chỉ số tăng trưởng này bao gồm: chiều cao cây, diện tích lá, số lá và sinh khối khô của chồi. Phân lân cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phân chia và tăng kích thước tế bào.
Trong các quá trình trao đổi chat, P giữ vai trò trung tâm, vì nó tham gia trong việc xây dựng nên ADP, ATP. ATP được hình thành trong quang hợp và hô hấp đã được sử dụng cho nhiều quá trình sinh lý quan trọng như hút nước và các chất khoáng, trao đổi và vận chuyền các chất trong cây (Trần Kim Đồng và ctv, 1991). Lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây; lân tham gia vào thành phần các enzim, các protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin; kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vao dat và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đỗ ngã. Ngoài ra lân còn kích thích quá trình đẻ nhánh, nay chồi, thúc đây cây ra hoa tạo quả sớm và nhiều.
Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tô không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại bệnh hại. Mặc dù nồng độ lân trong đất cao gấp 2000 lần so với cây trồng, nhưng lân chủ yêu ở dạng hợp chất với nhôm, sắt, canxi hoặc magiê khiến lân không được cây hấp thụ. Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm. Thiếu lân sẽ khó chân đoán hơn thiếu đạm hoặc kali.
Thiếu lân vừa phải có thể không tạo ra các triệu chứng rõ ràng. Thiếu lân làm cho các quá trình sinh lý trong cây bị rối loạn, giảm khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bat lợi; có thé giảm cả hô hấp và quang hợp. Ngoài ra, thiếu lân cũng có thé làm giảm tổng hợp protein và axit nucleic, dẫn đến tích tụ các hợp chất N hòa tan trong mô, đặc biệt là amit. Quá trình khử nitrat diễn ra bình thường, nhưng các nhóm axit amin không được kết hợp dé tạo thành protein.
Bản thân các protein là chất xúc tác trong quá trình trao đồi chất; do đó, sự phát triển của tế bào sẽ bị trì hoãn và có khả năng bị ngừng lại do thiếu lân. Kết quả là, các triệu chứng thiếu lân bao gồm giảm chiều cao cây, chậm ra lá và phát triển hoa, quả, giám đẻ nhánh, giảm phát triển rễ phụ, giảm năng suất chất khô (Đường Hồng Dật, 2009). Vai trò của kali Kali là một chất dinh dưỡng đa lượng, là cation quan trọng và tồn tại lâu nhất trong tế bào thực vật sống (Clarkson và Hanson, 1980). Kali được hấp thụ và tích lũy trong tế bào thực vật, và nó chiếm 2—10% trọng lượng khô của cây.
Nồng độ kali trong tế bao chat của thực vật tương đối ồn định khoảng 100 mM, đây là nồng độ kali tối ưu cho các hoạt động của enzym tế bào chất (Walker va ctv, 1996). Trong tế bào chất, kali có chức năng sinh hóa quan trọng và không thể thay thế bởi các chất hòa tan khác. Kali tham gia vào quá trình sản xuất phosphate cao năng ATP liên quan đến sự tong hợp tinh bột cũng như protein; kali có chức năng trong việc nhận N và tong hop Protein, trao dỗi Lipid, quá trình trao đổi và ảnh hưởng theo hướng tích cực đến quá trình sinh tổng hợp các sắc tố trong lá. Ngoài ra, kali ảnh hưởng tốt đến quá trình đẻ nhánh, hình thành bông và chất lượng hạt ở các cây ngũ cốc.
Ở thực vật, thiếu kali sẽ làm ức chế quá trình sinh tông hợp đường, axit hữu cơ và vitamin C, dẫn đến hàm lượng chất ran hòa tan trong trải cây thấp hơn (Sobulo và Olorunda 1975; Matev và Stanchev 1979). Ngược lại với đạm, kali có tương quan thuận với màu sắc của vỏ và độ chua của trái cây (Neilsen và ctv 1998; Hunsche va ctv 2003). Tương tu như dam, tỷ lệ phân bon kali có thể làm giảm độ cứng của trái (Hunsche va ctv, 2003). Các triệu chứng liên quan đến thiếu kali bao gồm cháy xém nâu và quăn các ngọn lá cũng như hiện tượng úa vàng giữa các gân lá, liên quan trực tiếp đến sự thoái hóa chất diệp lục (Wang và ctv, 2012).