Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây dưa leo 1.1 Nguồn gốc và phân loại thực vật Dưa leo có tên khoa học là Cucumis sativus L. là cây thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), số lượng NST 2n = 14. Là loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể được trồng ngoài đồng ruộng hoặc trong nhà lưới. Đã xuất hiện từ lâu đời, được sử dụng phổ biến trong bữa ăn hàng ngày của nhiều nước trên thế giới.
Sativus, Filov A (1940), các dạng hoang dai được đưa vào nhóm phụ Ssp Agrostis Gab, còn các dạng khác là trồng trọt và tập trung vào 6 loài phụ dựa trên quan điểm hình thái thực vật mang đặc trưng sinh thái rõ rệt: 1) Ssp. Europoae — Americanus Fil: Loài phụ Âu — Mỹ có diện tích phổ biến nhất; 2) Ssp. Occdentall - asisticus Fil: loài phụ Tây Á, phố biến ở Trung và Tiểu Á (có tính chịu hạn cao); 3) Ssp. Chinensis Fil: loài phụ Trung Quốc, trồng nhiều trong nhà kính ở Châu Au, dang qua ngắn thụ phan nhờ côn trùng và qua đài không qua thụ phấn; 4) Ssp.
Indico - Japomcus Fil: loài phụ Nhật An (loài phụ phổ biến ở cùng cận nhiệt có lượng mưa lớn và các giống dưa ở Việt Nam chủ yếu thuộc nhóm nay); 5) Ssp. Himalaicus Fil: nhóm phụ Hymalayas; 6) Ssp. Helmaphroditus Fil: nhóm cây lưỡng tính. Dưa leo là loại rau truyền thống.
Nhiều tài liệu cho biết dua leo có nguồn gốc ở miền Tây Ấn Độ. Cũng có ý kiến cho rằng dưa leo có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng trọt vào khoảng 3000 năm trước. Dưa leo được đưa đến một số vùng phía tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu. Dưa leo được giới thiệu ở Trung Quốc rất sớm, có thé 100 năm trước công nguyên hoặc sớm hơn (Tạ Thu Cúc, 2005).
Hiện nay dua leo được trồng ở khắp nơi, từ xích đạo tới 63° vĩ bắc, đứng thứ 6 trong số các rau trên thế giới (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996) và phát triển ở nhiều nước trên hầu hết các châu lục như: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Ai Cập và Tây Ban Nha. Dưa leo có thê nuôi trồng tốt quanh năm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam.2 Giá trị dinh dưỡng của cây dưa leo Dưa leo giàu dưỡng chất quan trọng cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất cho cơ thé. Thanh phần dinh dưỡng da dạng bao gồm: nước, protein, calcium, vitamin A, vitamin C, vitamin B1, vitamin B2, niacin.Ngoai ra dưa leo mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như hỗ trợ tim mạch, giúp giảm cân và tiêu hóa tốt, bù nước cho cơ thé, cải thiện làn da, ngăn ngừa ung thư.1 Giá trị dinh dưỡng trong 100g dưa leo (tính cả vỏ) Loại dinh dưỡng Gia trị Loại dinh dưỡng Gia tri Nang luong 65 kJ Vitamin Be 0.040 mg Cacbohydrat 3,63 g Folate (Bos) 7 ug Duong 1,67 g Vitamin C 2,8 mg Chat xo 0,5 g Canxi 16 mg Chat béo 0,11g Sắt 0,28 mg Chất đạm 0,65 g Magie 13 mg Thiamine (Bì) 0,027 mg Phốt pho 24mg Riboflavin (Bz) 0,033 mg Kali 147 mg Niacin (B3) 0,098 mg Kém 0,20 mg Pantothenic cid (Bs) 0,259 mg (USDA, 2019) 1.3 Đặc điểm thực vật học Rễ: Hệ rễ có thé ăn sâu dưới lòng đất Im, rễ nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai, phân bố ở tang đất từ 0 — 30 em, nhưng hầu hết tập trung ở tang đất 15 — 20 cm. Hệ rễ ưa am, phát triển yếu, không chịu khô han, cũng không chịu ngập ung (Tạ Thu Cúc, 2005).
Thân: Thân dưa leo thuộc loại thân thảo hằng niên, thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống. Thân chính thường phân nhánh, có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập nhánh ngang chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0,5 - 2 m, giống trồng trong nhà kính có thé đài tới 5 m. Thân chính hình thành nhánh cấp 1, cấp 2 và các tua cuốn mọc từ nách lá. Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện độ ẩm cao có thể thành lập nhiều rễ bất định.
Sự phân nhánh của dưa leo còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm. Lá: Lá đưa leo gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục thân. Lá mam hình trứng, là chỉ tiêu quan trọng dé đánh giá và dy đoán tình hình sinh trưởng của cây. Lá thật có 5 cánh, chia thùy nhọn hoặc có dạng chân vịt, có dạng lá tròn, trên lá có lông cứng, ngắn, màu sắc lá thay đôi (Tạ Thu Cúc, 2005).
Hoa: Đơn tính đồng hay biệt chu. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt, hoa đực mọc thành cụm từ 5 - 7 hoa, dua leo cũng có hoa lưỡng tinh, có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cải phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Qua và hat: Lúc còn non có gai xù xì, khi quả lớn gái từ từ mat đi, quả thường thuôn đài, có 3 múi, hạt đính vào noan.
Quả từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm), khi chín quả chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh. Quả tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thé thu quả từ 8 - 10 ngày sau khi hoa nở. Pham chat quả không chi tùy thuộc vào thành phần các chất đinh dưỡng trong quả mà còn tùy thuộc vào độ chắc của thịt quả, độ lớn của ruột quả và hương vị quả. Hạt có màu trắng ngà, trọng lượng 1000 hạt từ 20 — 30g, trung bình có từ 200 — 500 hạt.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Dưa leo thuộc nhóm cây ưa nhiệt.
Hạt có thé nảy mam ở nhiệt độ 12 - 13°C. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột là 25 - 30°C. Nhiệt độ cao hơn sẽ làm cho cây ngừng sinh trưởng và nếu kéo đài nhiệt độ 35 - 40°C cây sẽ chết. Ở nhiệt độ đưới 15°C cây ở trạng thái mat cân bằng giữa quá trình đồng hoá và dị hoá.
Ánh sáng: Dưa leo là cây cảm ứng với ánh sáng ngày ngắn (ưa ánh sáng ngày ngắn hơn) thời gian chiếu sáng 10-12 giờ/ngày là thích hợp nhất. Thời gian chiếu sáng dai, nhiệt độ cao sẽ thúc đây sự phát triển thân lá, hoa cái xuất hiện muộn, màu sắc nhạt, vàng ta, hoa cái dé bị rụng. Khi đó sẽ cho năng suất thấp, chất lượng giảm, hương vi kém. Nắng nhiều có tác dụng tốt đến hiệu suất quang hợp làm quả nhanh lớn, mập, chất lượng tốt và rút ngắn được thời gian lớn của quả.
Cường độ ánh sáng thích hợp cho cây dưa leo sinh trưởng nằm trong phạm vi 15. Nước và độ âm: Trong quả dưa leo chứa 95% là nước nên yêu cầu về 4m độ của cây rất lớn. Độ âm thích hợp cho cây dưa leo là 85 - 95%, độ âm không khí 90 - 95%. Cây dưa leo chịu hạn và chịu úng kém.
Khi đất khô hạn, hạt mọc chậm, sinh trưởng thân lá kém đồng thời cây có sự tích luỹ chất cucurbitacin gây dang quả thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện qua dị hình, bi dang va dé nhiễm bệnh virus. Thời kỳ ra hoa và tạo qua là giai đoạn yêu cầu lượng nước cao nhất (trên 80%). Hạt nảy mam yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng của hạt. Trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, cây dưa leo yêu cầu một lượng nước khá lớn nên cần cung cấp đầy đủ, kịp thời nước cho cây, đặc biệt là ở thời kỳ khủng hoảng nước của cây (giai đoạn cây con và khi cây ra hoa, hình thành quả rộ).
Đất trồng: Dưa chuột là cây có yêu cầu nghiêm ngặt về đất trồng do có bộ rễ kém, sức hap thu của rễ yếu. Dat trồng thích hợp cho cây dua leo là đất có thành phan cơ giới nhẹ như đất thịt nhẹ hay đất pha cát, độ pH là 5,5 - 6,5 là thích hợp cho năng suất cao, chất lượng qua tốt. Dat trồng dưa leo phải được thâm canh triệt dé. Dinh dưỡng: Qua nghiên cứu của các nhà khoa học đã chúng minh rằng, dưa leo khi sử dụng kali với hiệu suất cao nhất 100% kali, tiếp đến là sử dụng đạm 92%, lân 32%.
Cây dưa leo không chịu được nồng độ phân cao nhưng khi thiếu dinh dưỡng thi nó lại biểu hiện rất rõ. Bên cạnh những nguyên tố đa lượng thì các nguyên tố vị lương cùng rat cần thiết cho cây dưa leo sinh trưởng phát triển. Các nguyên tố như Bo, Zn, Mg, Cu. có vai trò hết sức quan trọng chúng có thé làm thay đối ty lệ hoa cái và hoa đực trên cây.
Vì vậy, trong sản xuất người trồng dưa leo nên cần phải bé sung kịp thời cho cây. - Khi thiếu dam cây bat đầu có màu xanh nhạt, sinh trưởng kém, lá già có mau trắng nhợt nhạt bắt đầu từ mép lá hướng vào trong. - Thiếu kali cây sinh trưởng chậm, lá xanh nhạt, bề mặt là xuất hiện những đám xanh - trắng xen nhau, mép lá xoăn lại, là non mat diệp luc. - Thiéu Mg cây sinh trưởng kém, là nhỏ, rai rác những đốm lá chết trên phiến lá, sau đó lan rộng khắp lá làm lá khô dan và chết.
- _ Thiếu lưu huỳnh lá cuối cùng có màu xanh nhạt, những lá đưới có màu xanh bình thường. - _ Thiếu lân cây sinh trưởng kém, là chuyền từ màu xanh đậm sang màu ghi làm lá khô và chết. - _ Thiếu canxi cây sinh trưởng bình thường, lá it màu xanh (ít diệp lục) mép lá xoắn, khô cứng. - Thiếu Bo lá dày, màu xanh đậm, đỉnh ngọn khô héo, những lá gốc chuyển mau nâu và xoăn mép lại.5 Các thời kỳ sinh trưởng của cây dưa leo Theo Tạ Thu Cúc (2005), họ bầu bí chia thành 5 thời kỳ sinh trưởng bao gồm.1 Thời kỳ nảy mầm Từ khi mọc đến 2 lá mầm: Nhìn chung hạt của họ bầu bí có khối lượng hạt lớn, hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng nên thuận lợi cho quá trình mọc.
Yếu tố quan trọng trong thời kỳ nảy mầm là nhiệt độ. Khi nhiệt độ trên 12°C thì hạt nảy mầm, nhiệt độ thích hợp nhất là 25 — 30°, nhiệt độ thấp dưới 10°C hạt không mọc. Độ ẩm đất cũng quan trọng trong thời kỳ hạt nảy mam. Sự sinh trưởng của hai lá mầm phụ thuộc nhiệt vào giống, nhiệt độ, chất đinh dưỡng và độ âm đất.