Chương 1 trình bày tầm quan trọng của vốn tâm lý trong việc tạo động lực và hiệu quả làm việc cho cán bộ, nhân viên của Agribank Long An. Đề ra những mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nhằm đánh giá tác động của các yếu tố vốn tâm lý đến động lực và quả làm việc của CBNV tại Agribank Long An. Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tìm hiểu nội dung về mặt lý thuyết về vốn tâm lý và những ảnh hưởng của vốn tâm lý tới động lực và hiệu quả làm việc thông qua những nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước 2.
Khái niệm vốn tâm lý Vốn tâm lý và nội hàm của nó đã được phát triển bởi Law và cộng sự (1998), Hobfoll (2002), Luthans (2004), Luthans và Youssef (2004) hay Luthans và cộng sự (2007). Có nhiều cách hiểu về vốn tâm lý. Theo Avey và cộng sự (2009), vốn tâm lý là bản chất của con người và là trạng thái tâm lý tích cực trong sự phát triển của cá nhân. Nó ảnh hưởng tích cực tới bản chất con người và giúp các cá nhân làm việc đạt được hiệu quả cao (Luthans và Youssef, 2004).
Nói chung vốn tâm lý thường được nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết là hành vi tổ chức (Avey và cộng sự, 2009). Luthans và cộng sự (2007) cho rằng vốn tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của con người được mô tả bởi: (i) sự tự tin để đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ mang tính thử thách với nỗ lực cần thiết để đạt được thành công; (ii) thái độ lạc quan về sự thành công; (iii) kiên trì hướng tới mục tiêu và khi cần thiết có thể xoay chuyển mục tiêu để đạt đến thành công; và (iv) duy trì, thích nghi và vượt qua những trở ngại để đạt thành công. Nhìn chung, vốn tâm lý có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn tâm lý mang tính cách của một cá nhân, có tính ổn định và nhất quán, nhưng dễ thay đổi trong các tình huống khác nhau (Robbins và cộng sự, 2004; Luthans và cộng sự, 2007). Thứ hai, vốn tâm lý khác với các khái niệm về vốn con người và vốn xã hội (hoặc trong doanh nghiệp là vốn xã hội của tổ chức) được coi là năng suất biểu hiện trong các mối quan hệ làm việc giữa người với người (Tomer, 1999).
Vốn tâm lý được xây dựng dựa trên những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người và vốn xã hội. 5 Tuy nhiên nó đã vượt ra khỏi những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người, nghĩa là “bạn biết gì”, và vốn xã hội “bạn biết ai”. Cụ thể vốn tâm lý đề cập đến “bạn là ai” và trong nhận thức phát triển “ai là người bạn đang muốn trở thành?” (Luthans và cộng sự, 2007). Thứ ba, tuy nhiên có sự phối hợp giữa vốn tâm lý, vốn con người, và vốn xã hội.
Vốn tâm lý có bốn thang đo (i) Niềm hy vọng (Snyder và cộng sự, 1996), (ii) Tính kiên trì (Wagnild và Young, 1993) , (iii) Sự lạc quan (Scheier và Carver, 1985), (iv) Niềm tin vào bản thân (Parker và cộng sự, 1998). Tập hợp ý kiến của các tác giả trên, Luthans và cộng sự, (2007) đề xuất bốn thành phần cấu thành vốn tâm lý gồm: hy vọng (hope), tính kiên trì (resiliency), lạc quan (optimism) và sự tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy). Những yếu tố này có mối quan hệ tích cực tới động lực làm việc và hiệu quả công việc. Trong đó, sự tự tin vào năng lực bản thân có tác động dương đến hiệu quả làm việc (Stajkovic và Luthans, 1998), sự lạc quan của nhân viên có tương quan với hiệu quả làm việc, sự hài lòng, hạnh phúc và sự duy trì (Youssef và cộng sự, 2007).
Tính kiên trì có tác động dương đến hiệu quả làm việc của nhân viên (Luthan và cộng sự, 2005), hạnh phúc và sự hài lòng (Youssef và Luthans, 2007). Như vậy, vốn tâm lý là một thang đo được cấu thành bởi các cấu trúc đo lường bậc hai của nó và các cấu trúc đo lường bậc hai này chính là các yếu tố thể hiện tâm lý tích cực và có thể tác động tới các mặt khác nhau của người sở hữu nó như tác động tới thái độ làm việc, hành vi của người lao động, hay hiệu quả làm việc (Avey và cộng sự, 2009) 2. Các thành phần của vốn tâm lý 2. Tự tin vào năng lực bản thân (Self-efficacy) Tự tin vào năng lực bản thân được hiểu là niềm tin vào khả năng để thực hiện tốt bất cứ điều gì bằng sự nỗ lực của cá nhân (Wood và cộng sự, 1996).
Những người tự tin vào năng lực bản thân cao sẽ tiếp cận các tình huống mới một cách tự tin và kiên trì nỗ lực hết mình vì họ tin thành công sẽ đến; trong khi đó người thiếu tự tin vào năng lực bản thân nghĩ về thất bại và né tránh thử thách. Tự tin vào năng 6 lực bản thân bao gồm sự tự tin vào khả năng suy nghĩ, học tập, đưa ra những quyết định phù hợp và phản ứng một cách hiệu quả để thay đổi (Judge và cộng sự, 1998). Theo Luthans và cộng sự, (2007), tự tin vào năng lực bản thân đồng nghĩa với khái niệm tự tin và liên quan đến năm hành vi sau: (i) đặt mục tiêu cao, (ii) cởi mở đối với nhiệm vụ khó khăn, (iii) tự tạo động lực cho bản thân; (iv) nỗ lực hoàn thành mục tiêu; và (v) kiên trì vượt qua khó khăn. Theo Barling và Beattie (1983), niềm tin vào bản thân là một đặc tính quan trọng trong thành công bởi vì nếu người lao động cảm thấy có thể làm được hoặc có khả năng để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể họ sẽ nổ lực phấn đấu để thực hiện tốt hơn.
Niềm tin càng cao thì người lao động càng có đủ sự kiên trì và quyết tâm vượt qua những thách thức phải đối mặt trong công việc (Lent và cộng sự, 1987). Khi có sự thay đổi mới trong công việc, niềm tin vào bản thân có thể giúp nhân viên thích nghi với những thay đổi một cách nhanh chóng và hiệu quả (Hill và cộng sự, 1987). Tự tin vào năng lực bản thân đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của con người bởi nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mà còn tác động nhất định đến một số yếu tố khác như mục tiêu và nguyện vọng, kết quả mong đợi, khuynh hướng tình cảm và nhận thức về những trở ngại và cơ hội. Tự tin vào năng lực bản thân ảnh hưởng đến suy nghĩ mang tính nhất thời hay có chiến lược, lạc quan hay bi quan, con đường chọn theo đuổi, mục tiêu đề ra cho bản thân và trách nhiệm thực hiện (Bandura, 2007).
Ngày nay do sự cạnh tranh khốc liệt, các tổ chức ngày càng quan tâm đến niềm tin vào bản thân của nhân viên bởi vì yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả công việc (Bandura và Locke, 2003). Vì vậy theo Lunenburg (2011), doanh nghiệp nên đưa ra các cơ hội đào tạo và phát triển cho những nhân viên có niềm tin vào bản thân cao. Những người này sẽ học tập chủ động và chủ động trong việc áp dụng những gì đã học vào công việc của họ, vì vậy hiệu quả làm việc sẽ được tăng lên. Rõ ràng, niềm tin vào bản thân không chỉ tốt cho một cá nhân mà còn quan trọng đối với sự phát triển của công ty.
7 Luthans và cộng sự (2008) đã nghiên cứu và chỉ ra có bốn cách để cải thiện niềm tin vào bản thân. Trước tiên, niềm tin có thể phát triển khi một nhân viên có những kinh nghiệm về sự thành công. Thứ hai, niềm tin của nhân viên có thể phát triển khi họ gián tiếp học cách làm một cái gì đó bằng cách quan sát những người khác và được khuyến khích áp dụng vào công việc. Thứ ba, niềm tin có thể phát triển khi nhận được những phản hồi tích cực từ những người có uy tín.
Thứ tư, niềm tin có thể được phát triển được nâng cao thông qua sức khỏe sinh lý và / hoặc tâm lý. Có thể nói tự tin vào năng lực bản thân là một trong những yếu tố tâm lý rất quan trọng của người lao động trong quá trình làm việc. Thông thường người lao động có sự tự tin cao khi năng lực chuyên môn hay năng lực giải quyết công việc trong thực tế là cao. Về cơ bản, yếu tố này có quan hệ khá gần gũi với năng lực của người lao động.
Niềm hy vọng (Hope) Hy vọng tạo nên động lực và khát khao để đạt được những kỳ vọng của cá nhân với phương pháp cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đó ngay cả khi đối mặt với khó khăn (Luthans và Youssef, 2004). Hy vọng được định nghĩa như là động cơ tích cực dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố để dẫn đến thành công, bao gồm: (i) định hướng mục tiêu (ii) cách thức đạt mục tiêu (Snyder và cộng sự, 1991). Nói cách khác, hy vọng bao gồm cả sức mạnh ý chí (tác động của các cá nhân, hoặc quyết tâm) và cách nghĩ có chủ đích (để có thể đưa ra các cách thức tương đương và kế hoạch dự phòng để đạt được một mục tiêu). Dòng nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có có sự tương quan giữa niềm hy vọng và sự hài lòng với công việc và cam kết tổ chức (Luthans và cộng sự, 2005; Youssef và Luthans, 2007).
Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa hy vọng và áp lực nơi làm việc. Snyder và cộng sự (1991) đã chỉ ra rằng niềm hy vọng có một quan hệ tỉ lệ nghịch với sự lo lắng, và các nghiên cứu chứng minh mức hy vọng của một cá nhân ngăn chặn sự nhận thức về tính dễ tổn thương, khả năng khó kiểm soát, và khó dự đoán (Snyder, 2000). Ngoài ra, tạo điều kiện cho các cá nhân có cơ hội tham gia các chương trình đào tạo đã chứng 8 minh thành công trong việc hỗ trợ và xây dựng niềm hy vọng của cá nhân (Snyder, 2000). Theo đó, niềm hy vọng của một cá nhân có thể được củng cố và xây dựng thông qua việc hỗ trợ đào tạo (Snyder, 2000).